Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25-3-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Mi Mi.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Đào Thị Mộng Trinh

2/ Ông Đặng Văn Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Kim Quy– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 526/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2024, Về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/02/2025; Quyết định Hoãn phiên tòa số 19/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03/3/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N - sinh năm 1979;

Bị đơn: Ông Phạm Ngọc K - sinh năm 1984

Cùng địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Vắng mặt tất cả các đương sự.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày 25/11/2024 và tại bản khai ngày 10/12/2024 nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà và ông Phạm Ngọc K cưới nhau vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H. Việc cưới nhau là do hai bên tự tìm hiểu. Sau khi cưới vợ chồng sống tại xã H, huyện H. Vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không có tiếng nói chung, ông K thường xuyên đánh đập bà rất nhiều lần, mỗi lần như thế ông K thường cầm dao rượt đuổi bà khiến bà rất lo sợ. Bà đã nhiều lần tha thứ cho ông K nhưng ông K vẫn chứng nào tật ấy không thay đổi. Bản thân bà đã chịu đựng quá nhiều nhưng sức chịu đựng của bà không còn nữa. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và nguyện vọng của bà là yêu cầu xin được ly hôn với ông Phạm Ngọc K.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Bảo  – sinh ngày 23/5/2011 và Nguyễn Hoàng V – Sinh ngày 03/4/2013. Khi ly hôn bà yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung. Tại đơn khởi kiện bà yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi các con đủ tuổi trưởng thành và có khả năng lao động. Nay bà thay đổi yêu cầu khởi kiện, bà yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con nữa vì bà đủ điều kiện nuôi các con.

Về tài sản và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, ông Phạm Ngọc K vắng mặt nên bà yêu cầu Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị đơn ông Phạm Ngọc K đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng như ghi lời khai, lập biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con với bị đơn. Đây là tranh chấp về ly hôn, nuôi con. Bị đơn có địa chỉ tại Thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Phạm Ngọc K đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về nội dung:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N và ông Phạm Ngọc K cưới nhau vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Đây là hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình. Bà Nguyễn Thị N cho rằng vợ chồng sống hạnh phúc được hơn 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn là do ông K thường xuyên đánh đập bà nhiều lần, bà đã cho ông K cơ hội nhưng ông không thay đổi tính tình nên vợ chồng không có tiếng nói chung, không hạnh phúc. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và nguyện vọng của bà yêu cầu xin được ly hôn với ông Phạm Ngọc K.

Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi Tòa án mở phiên tòa, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Phạm Ngọc K nhưng ông K cố tình lẫn tránh, vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định của pháp luật được. Việc đó thể hiện ý thức xem thường pháp luật, không thiết tha gì đến hạnh phúc và hôn nhân của mình. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử nhận định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị N và ông Phạm Ngọc K thực tế đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục cuộc sống chung được. Do vậy, yêu cầu được ly hôn của bà Nguyễn Thị N là có căn cứ nên chấp nhận.

  • - Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Bảo  – sinh ngày 23/5/2011 và Nguyễn Hoàng V – Sinh ngày 03/4/2013.

Khi ly hôn bà N yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi các con.

Xét yêu cầu được nuôi con của bà N, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các con tên Nguyễn Bảo  và Nguyễn Hoàng V, hiện nay đang ở với bà N và theo bản khai của các con là mong muốn được tiếp tục ở với mẹ. Hội đồng xét xử nhận định từ khi bà N và ông K mâu thuẫn nhau thì bà N là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con, ông K không đến Tòa để nêu ý kiến của ông. Vì vậy, giao các con chung cho bà N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Bà N không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

  • - Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000đồng án phí ly Hôn sơ thẩm theo Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Đ a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.

Ông Phạm Ngọc K không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, Khoản 4 Điều 91, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 146, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị N về việc yêu cầu ly hôn với ông Phạm Ngọc K.

    Bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Phạm Ngọc K.

  2. Về con chung:

    Bà Nguyễn Thị N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Bảo  – sinh ngày 23/5/2011 và Nguyễn Hoàng V – Sinh ngày 03/4/2013.

    Bà Nguyễn Thị N không yêu cầu ông Phạm Ngọc K cấp dưỡng nuôi con.

    Ông Phạm Ngọc K có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con mà không ai được cản trở.

  3. Về án phí:

    Bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Bà N đã nộp đủ 300.000đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0013987 ngày 04/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên không nộp nữa.

    Ông Phạm Ngọc K không chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo :

    Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Chi cục THADS H.Hàm Thuận Bắc;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mi Mi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 34/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, Tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger