Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST

Ngày 23-01-2025

V/v tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Ngô Văn Đen.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng,

2. Ông Duyên Văn Hiền.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Huỳnh Hiếu Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đồng Tình – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 553/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 08 năm 2024, về việc “tranh chấp xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 544/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Lan N. Sinh năm: 1990 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Phạm Văn T. Sinh năm: 1982 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Kim Y. Sinh năm: 1974 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và các tài liệu trong quá trình tố tụng, bà Trần Lan N trình bày:

Về hôn nhân: Bà N và ông T kết hôn năm 2011 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Hôn nhân là tự nguyện. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không còn tình cảm thương yêu nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Đời sống hôn nhân ngày càng trầm trọng, ông T có đánh bà N và hai người hiện đã ly thân nhau nên nay bà N yêu cầu ly hôn với ông T.

Về con chung: có 02 người con chung, tên Phạm Gia H, sinh ngày 30/01/2012, Phạm Phú Q, sinh ngày 19/5/2022. Khi ly hôn bà N yêu cầu được nuôi hai con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về hôn nhân: Bà Trần Lan N yêu cầu ly hôn với ông Phạm Văn T.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Về những khoản nợ chung mà ông T liệt kê bà N chỉ đồng ý khoản nợ của bà Phạm Bé B là 7.000.000 đồng, bà đồng ý chia đôi khoản nợ này là 3.500.000 đồng. Những khoản nợ khác còn lại bà N không đồng ý.

- Bị đơn ông Phạm Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Ông thống nhất với lời trình bày của bà N về thời điểm kết hôn, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn, quá trình chung sống có lúc nóng nảy ông có đánh vợ ông. Nay ông T không đồng ý ly hôn với bà N vì còn thương yêu vợ con, ông cam kết sẽ không đánh vợ nửa, ông yêu cầu cho ông thời gian để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Ông muốn lo cho con của ông.

Về con chung: Do không đồng ý ly hôn, ông vẫn còn sống chung với vợ con, vợ ông phải đảm bảo cho ông được quyền thăm nom chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản. Con Phạm Gia H bị bệnh động kinh giật từ nhỏ đến lớn.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Quá trình chung sống, ông T bà N có những khoản nợ chung như sau:

  • + Nợ ông Phạm Văn L là anh ruột ông T, địa chỉ khóm A, TT. T, huyện T, tỉnh Cà Mau số tiền 150.000.000 đồng.
  • + Nợ bà Phạm Bé B 7.000.000 đồng.
  • + Nợ bà Phạm Kim Y 10.000.000 đồng, ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
  • + Nợ bà Phạm Thị L1 17.000.000 đồng, ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Tổng cộng những khoản nợ này là 184.000.000 đồng, ông T yêu cầu chia 2 khoản nợ này khi vợ chồng ly hôn, mỗi người phải chịu là 92.000.000 đồng.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Kim Y trình bày:

Năm 2022 bà Y có vay Ngân hàng tiền về nước sạch vệ sinh môi trường là 30.000.000 đồng để sinh hoạt trong gia đình, sau đó T và N mượn của bà Y 10.000.000 đồng, lúc đầu bà Y thấy hai vợ chồng khổ mới cho mượn, T nói mai trả lại cho chế, lúc bà Y đưa tiền có mặt hai vợ chồng, đưa tiền tại nhà của N. Như nói: chế giúp đỡ anh Tân em cảm ơn, chứ không biết nói sao, đến hai ngày sau bà Y ghé qua hỏi: có tiền chưa tôi lấy thì T trả lời: cho em đóng lời là 400.000 đồng/tháng, đóng được 5 tháng thì không đóng nữa, bà Y có đến đòi tiền thì N nói: “Để kêu anh T trả vốn cho chế được không”, tôi nói được, đến nay là năm 2025 vẫn không trả tiền cho tôi, biết Như và Tân ly hôn mà số tiền của tôi 2 vợ chồng không ai trả, nay tôi yêu cầu Toà án buộc bà N và ông T trả cho tôi số tiền 10.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán chủ tọa từ khi thụ lý, đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự trong vụ án thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Lan N về việc yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Văn T.

Về con chung: Giao hai con chung 02 tên Phạm Gia H, sinh ngày 30/01/2012, Phạm Phú Q, sinh ngày 19/5/2022 cho bà Trần Lan N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Ông Phạm Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông T không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở việc thăm nom con chung của ông T và ông T phải tôn trọng quyền được sống chung cùng mẹ của hai cháu H và Q.

Về nợ: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Kim Y đối với ông Phạm Văn T. Ông Phạm Văn T phải có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Kim Y số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Đối với những khoản nợ khác mà ông T liệt kê, nếu có tranh chấp sẽ được giải quyết ở một vụ án khác sau khi ly hôn.

Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự, quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Phạm Văn T có nơi cư trú tại Ấp A, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà N khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con chung với ông T nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "tranh chấp xin ly hôn" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Phạm Văn T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Kim Y đã được Toà án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên xét xử lần 2 nhưng vắng mặt không lý do, căn cứ theo Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án xét xử vắng mặt ông T, bà Y theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông bà tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện T vào năm 2011 đúng theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông bà được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện ông bà đã ly thân nhau.

Toà án có đi xác minh về tình trạng hôn nhân của bà N và ông T tại hai nơi là ấp A, xã K và ấp A, xã T, chính quyền địa phương của hai nơi này đều xác định cuộc sống hôn nhân của bà N và ông T có nhiều mâu thuẩn, thường xuyên cự cãi và hiện hai người đã ly thân nhau.

Bà N xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông T và thể hiện sự quyết tâm mong muốn được ly hôn. Trường hợp nếu cho các bên tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc, do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của bà N được ly hôn với ông T.

[3] Về con chung: có 02 người con chung, tên Phạm Gia H, sinh ngày 30/01/2012, Phạm Phú Q, sinh ngày 19/5/2022. Khi ly hôn bà N yêu cầu được nuôi hai con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Hai cháu Phạm Gia H, Phạm Phú Q từ trước đến nay đều chung sống cùng bà N, điều kiện hoàn cảnh sống của các cháu tốt, cháu Phạm Phú Q, sinh ngày 19/5/2022 dưới 36 tháng tuổi nên giao cho bà N nuôi dưỡng là đúng theo quy định của pháp luật. Tại biên bản ghi ý kiến của con trên 7 tuổi ngày 07/11/2024 cháu H trình bày: “Cháu H hiện nay đã nghĩ học, đang sống chung với mẹ là Trần Lan N, điều kiện sống tốt, mẹ là người trực tiếp chăm sóc cho cháu. Trường hợp cha mẹ cháu ly hôn và không sống chung với nhau nữa, thì cháu có nguyện vọng được sống chung với mẹ là Trần Lan N”.

Do đó, Hội đồng xét xử xem xét nguyện vọng, điều kiện hoàn cảnh sống của hai cháu H, Q nên giao hai cháu H và Q cho bà N nuôi dưỡng đến khi trưởng thành là phù hợp và tốt nhất với hai cháu. Bà Như K yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên quá trình nuôi con có khó khăn vất vả bà N có thể yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Ông T không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở việc thăm nom con chung của ông T và ông T phải tôn trọng quyền được sống chung cùng mẹ của hai cháu H và Q.

[4] Về tài sản chung: Nguyên đơn và bị đơn đều xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp và yêu cầu giải quyết thì Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.

[5] Về nợ chung:

- Đối với khoản nợ 10.000.000 đồng của chị ông T là bà Phạm Kim Y, ông T thừa nhận có thiếu bà Y khoản tiền này và bà Y có đơn khởi kiện độc lập yêu cầu ông T và bà N có trách nhiệm cùng trả số tiền này cho bà Y. Việc mượn nợ giữa ông T và bà Y không có làm biên nhận nợ nhưng ông T thừa nhận nợ, bà N có biết khoản nợ này nên việc vay mượn giữa ông T với bà Y là có diễn ra, tuy nhiên bà N không đồng ý trả khoản nợ này cùng với ông T cho bà Y vì bà N cho rằng đây là khoản nợ riêng của ông T chứ không phải nợ chung của vợ chồng, ông T cũng không chứng minh được việc dùng khoản tiền này lo cho sinh hoạt chung của vợ chồng trong quá trình hôn nhân. Mặc khác chính bà Y trình bày tại đơn khởi kiện: “tôi có đến đòi tiền thì N nói: “Để kêu anh T trả vốn cho chế được không”, tôi nói được” do đó đây là khoản nợ riêng của ông T chứ không phải nợ chung của vợ chồng, do đó ông T phải có trách nhiệm trả số tiền 10.000.000 đồng này cho bà Y.

- Đối với những khoản nợ khác như: nợ ông Phạm Văn L là anh ruột ông T, địa chỉ khóm A, TT. T, huyện T, tỉnh Cà Mau số tiền 150.000.000 đồng. Nợ bà Phạm Thị L1 17.000.000 đồng, ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Nợ bà Phạm Bé B 7.000.000 đồng. Toà án có ấn định cho ông Phạm Văn T trong vòng 15 ngày kể từ ngày liệt kê và kê khai những khoản nợ này là ngày 07/11/2024 phải cung cấp cho Toà án những căn cứ để chứng minh đây là những khoản nợ chung, sử dụng và mục đích chung trong quá trình chung sống của vợ chồng, nhưng ông T không cung cấp được tài liệu chứng cứ cho Toà án. Riêng khoản nợ của bà Phạm Bé B là 7.000.000 đồng thì bà N thừa nhận và đồng ý trả cho bà B 3.500.000 đồng.

Toà án có tiến hành triệu tập đối với ông Phạm Văn L, bà Phạm Thị L1, bà Phạm Bé B đúng 13 giờ 30 phút, ngày 24 tháng 12 năm 2024 phải có mặt để tham gia phiên làm việc của Toà án nhưng ông L, bà L1, bà B vắng mặt không lý do và không có gửi ý kiến cho Toà án về những khoản nợ này. Nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp và yêu cầu giải quyết thì Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bà N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình; Ông T phải chịu án phí dân sự có giá ngạch đối với số tiền 10.000.000 đồng, bà Phạm Kim Y được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 429, Điều 463, Điều 466, 468 của Bộ luật dân sự 2015; Khoản 1 Điều 9, Điều 45, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Lan N về việc yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Văn T.

2. Về con chung: Giao hai con chung 02 tên Phạm Gia H, sinh ngày 30/01/2012, Phạm Phú Q, sinh ngày 19/5/2022 cho bà Trần Lan N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Ông Phạm Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông T không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở việc thăm nom con chung của ông T và ông T phải tôn trọng quyền được sống chung cùng mẹ của hai cháu H và Q.

3. Về nợ: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Kim Y đối với ông Phạm Văn T. Ông Phạm Văn T phải có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Kim Y số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền nói trên cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Về án phí: Bà Trần Lan N phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình. Bà có dự nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005570 ngày 29/8/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, nay được chuyển thu án phí, ông Phạm Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 500.000 đồng, chưa nộp. Bà Phạm Kim Y được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng tại biên lai thu số 0005891 ngày 12/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn, người liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Viện kiểm sát nhân dân H. Trần Văn Thời;
  • - Chi cục THADS H. Trần Văn Thời;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Văn Đen

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn

  • Số bản án: 34/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Lan Như yêu cầu ly hôn với ông Phạm Văn Tân.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger