TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Số: 34/2025/HNGĐ - ST. Ngày: 23/01/2025 V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Bảo Long.
Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trương Thị Thái
2. Ông Nguyễn Văn Tuất
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đỗ Thị Minh Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Chu Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 31/2024/TLST-HNGĐ ngày 15/01/2024 về việc “Xin ly hôn”; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Đặng Diễm N, sinh năm 1992; Địa chỉ: Số C ngõ F đường C, xã T, huyện T, Hà Nội (Có mặt tại phiên tòa).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Hà Thiên T-luật sư Công ty L, Đoàn Luật sư thành phố H (Vắng mặt tại phiên tòa).
- Bị đơn: Anh Đào Viết H, sinh năm 1980; Địa chỉ: P, CT8A khu đô thị Đ, xã T, huyện T, Hà Nội (Có mặt tại phiên tòa).
- Người làm chứng: Ông Lê H1, sinh năm: 1979; Nơi cư trú: TT7-N04 khu N, tổ F phường P, quận B, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải tại Tòa án... nguyên đơn – Chị Nguyễn Đặng Diễm N trình bày:
1. Về tình cảm:
Chị và anh Đào Viết Hải kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 17/3/2014 tại UBND Thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống tại Phòng 910, CT8A khu đô thị Đ, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội
Quá trình chung sống hạnh phúc đến tháng 7 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hòa hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Bản thân chị và anh H không có biện pháp để hàn gắn mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi từ tháng 7 năm 2022 cho đến nay
Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đào Viết H.
2. Về con chung:
Chị và anh Đào Viết Hải có 01 con chung là cháu Đào Trà M, sinh ngày 16/5/2015. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi cháu Đào Trà M và yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung là 5.000.000 đồng/ tháng.
Hiện chị đang làm huấn luyện viên thể hình, thu nhập trung bình của chị vào khoảng 17.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng/ tháng.
3. Về tài sản chung, nợ chung và nhà, đất chung:
Chị và anh H có tài sản chung là Căn hộ số 910, CT8A khu đô thị Đ, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội, sau khi kết hôn anh chị có mua căn hộ trên vào tháng 7 năm 2014, nguồn tiền mua căn hộ do vay từ người thân là dì của chị, bà Đặng Thanh N1 số tiền 50.000.000 đồng, vay của em gái ruột anh H, chị Đào Thanh V số tiền 120.000.000 đồng, vay của ngân hàng, chị không nhớ ngân hàng nào và số tiền vay là bao nhiêu. Phần còn lại là tiền sau cưới khoảng 300 triệu đến 400 triệu đồng. Qua môi giới giới thiệu, anh chị có gặp anh Lê H1 và chị Hà Thị X (vợ anh H1) khi đó là chủ căn hộ 910A nhà CT8A khu đô thị Đ.
Sau khi xem xét, anh chị thống nhất mua căn hộ trên của anh Lê H1 và chị Hà Thị X với số tiền là 930.000.000 đồng. Thời điểm mua căn hộ nêu trên, căn hộ chưa có nội thất như hiện nay, chị là người trực tiếp lựa chọn mua các nội thất trong nhà. Do thời gian giao dịch mua bán đã lâu, chị không nhớ chính xác, thủ tục ký kết hồ sơ mua bán như thế nào. Tuy nhiên, chị khẳng định căn hộ nêu trên do anh chị cùng mua lại của vợ chồng anh Lê H1 sau khi đăng ký kết hôn và căn hộ trên là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Việc anh H có hợp đồng mua bán căn hộ năm 2012 ký với chủ đầu tư Doanh nghiệp tư nhân X1 tỉnh Điện Biên là không đúng thực tế giao dịch. Chị đề nghị Tòa án thực hiện xác minh tính chính xác, tính phù hợp quy định pháp luật của hợp đồng mua bán căn hộ do anh H cung cấp cho Tòa án, tài liệu chứng minh anh H mua căn hộ của chủ đầu tư, các phiếu thu thanh toán theo thông báo nộp tiền của chủ đầu tư từ năm 2012 đến năm 2014. Chị đề nghị Tòa án giải quyết phân chia tài sản theo quy định được hưởng 50 % giá trị căn hộ và nhận bằng tiền.
Việc mẹ chồng chị bỏ toàn bộ tiền mua nhà đứng tên anh H như anh H trình bày là không đúng sự thật, đến ngày hôm nay chị mới được biết nội dung này. Trong tổng số tiền 930.000.000 đồng tiền khi mua nhà, chị có đưa trang sức, tiền mừng cưới, một phần tiền của bố mẹ chị cho, phần còn lại vay từ họ hàng, người thân hai bên để đủ tiền đưa cho mẹ chồng chị trả tiền chuyển khoản mua nhà cho hai vợ chồng. Sau khi mua nhà và nhận nhà, hai vợ chồng có vay tiền ngân hàng để trả lại các khoản đã vay họ hàng, người thân. Hai vợ chồng thống nhất cùng đi làm và trả nợ tiền vay mua nhà.
Về nợ chung: Chị và anh Đào Viết Hải không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết
4. Về án phí: Chị tự nguyện nộp án phí theo quy định pháp luật.
Tại bản tự khai và các biên bản hòa giải bị đơn anh Đào Viết H trình bày:
1. Về tình cảm:
Anh xác nhận lời trình bày của chị N về thời gian, điều kiện kết hôn và mâu thuẫn vợ chồng là đúng. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Nay chị N có đơn xin ly hôn anh đồng ý ly hôn với chị N.
2. Về con chung:
Anh và chị Nguyễn Đặng Diễm N có 01 con chung là cháu Đào Trà M, sinh ngày 16/5/2015. Khi ly hôn, anh đồng ý để chị N nuôi dưỡng con chung và đề nghị mức cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 3.000.000 đồng/ tháng.
Hiện anh đang là kỹ sư tư vấn thiết kế với thu nhập trung bình vào khoảng 15.000.000 đồng/ tháng.
3. Về tài sản chung, nợ chung và nhà, đất chung:
Anh khẳng định căn hộ số 910A nhà CT8A khu đô thị Đ không phải là tài sản chung vợ chồng mà là tài sản bố mẹ anh cho tặng riêng anh. Thời điểm mua căn hộ là cuối năm 2013 đến đầu năm 2014 và mua lại của anh Lê H1, quá trình giao dịch anh là người giao dịch giá cả và mẹ anh là người trực tiếp trả số tiền mua bán căn hộ khoảng 930.000.000 đồng cho anh Lê Huy . Mẹ anh là người đặt cọc 30.000.000 đồng trước, sau đấy số tiền còn lại phải thanh toán nốt là 900.000.000 đồng, mẹ anh chuyển khoản nốt vào tài khoản anh Lê Huy . Đây là tài sản của mẹ anh vì anh chưa có nhà nên mẹ anh cho anh đứng tên, lời khai của anh là sự thật và có đầy đủ chứng cứ anh đề nghị Tòa án không cần triệu tập mẹ anh lên để làm việc.
Anh đề nghị Tòa án làm rõ hợp đồng mua bán căn hộ mà bên nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án. Việc nguyên đơn đề nghị cung cấp tài liệu, chứng cứ về các thông báo nộp tiền, các hóa đơn, phiếu thu thanh toán các đợt mua căn hộ anh không đồng ý, trong trường hợp Tòa yêu cầu anh sẽ cung cấp. Anh đề nghị Tòa án làm rõ việc nguyên đơn trình bày về nguồn tiền mua căn hộ do đi vay của dì, của em gái anh, vay của ngân hàng và phần tiền còn lại là tiền sau khi cưới đề nghị nguyên đơn cung cấp chứng cứ đã trình bày ở trên vì chị N có trình bày cùng nhau vay, cùng nhau trả là không đúng.
Chị N có yêu cầu phân chia tài sản chung theo quy định được hưởng 50% giá trị căn hộ và nhận bằng tiền, anh không đồng ý vì đấy là tài sản riêng của anh. Toàn bộ những lời trình bày của nguyên đơn phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh.
Về nợ chung: Anh và chị Nguyễn Đặng Diễm N không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
4. Về án phí: Anh đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa:
Chị Nguyễn Đặng Diễm N vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh Đào Viết H. Vợ chồng chị bất đồng về quan điểm, lối sống cũng như về tư duy, thậm chí còn xảy ra xô xát. Mâu thuẫn của vợ chồng chị đã trở nên trầm trọng đến giờ vẫn không thể hòa giải và tình cảm vợ chồng không còn.
Về con chung: Chị vẫn có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Đào Trà M vì cháu còn nhỏ và lại là con gái. Bản thân chị có thể tự mình nuôi cháu nhưng chị muốn anh H phải có trách nhiệm trong việc nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Đối với khoản cấp dưỡng nuôi con chung, chị chấp nhận theo sự tự nguyện của anh H.
Về tài sản chung, nhà ở chung: Vì anh chị đã tự thỏa thuận được nên chị rút toàn bộ yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng trong vụ án này (đã có đơn gửi Hội đồng xét xử), kính mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Về án phí: Chị tự nguyện nộp án phí theo quy định pháp luật.
Anh Đào Viết H trình bày: Anh đồng ý với yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Đặng Diễm N.
Về con chung: Anh đồng ý để chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 4.000.000 đồng/ tháng đến khi con chung trưởng thành.
Về tài sản chung, nợ chung và nhà, đất chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết và nhất trí với đơn rút yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng của chị N.
Về án phí: Đề nghị Tòa án xem xét theo quy định pháp luật.
Đại diện viện kiểm sát nhân huyện T, thành phố Hà Nội, kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
1. Về tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về phiên toà sơ thẩm; Đảm bảo nguyên tắc xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo; Thành phần Hội đồng xét xử đã đảm bảo theo đúng quy định tại Điều 63 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
2. Về nội dung vụ án:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Đặng Diễm N; Chị Nguyễn Đặng Diễm N được ly hôn với anh Đào Viết H.
Về con chung: Giao con chung là cháu Đào Trà M, sinh ngày 16/5/2015 cho chị Nguyễn Đặng Diễm N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
Anh Đào Viết H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 4.000.000 đồng/ tháng (bốn triệu đồng mỗi tháng) kể từ tháng 01 năm 2025 đến khi con chung trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác và có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản.
Về tài sản, nợ chung và nhà, đất: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết đề nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 244 Bộ luật tố tụng Dân sự đình chỉ xét xử sơ thẩm đối với yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng của chị Nguyễn Đặng Diễm N trong vụ án.
Về án phí: Các đương sự phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
Anh Đào Viết H có địa chỉ tại P, CT8A khu đô thị Đ, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ án là đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan hệ hôn nhân:
Hôn nhân giữa chị Nguyễn Đặng Diễm N và anh Đào Viết H là hôn nhân tự nguyện, hợp pháp có đăng ký kết hôn tại UBND Thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
Qua lời khai và trình bày của các bên cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã xác định vợ chồng anh chị trong cuộc sống hôn nhân có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống hai bên thường xuyên cãi vã, không tìm được tiếng nói chung và thiếu sự quan tâm, chia sẻ. Cả hai đã sống ly thân từ lâu, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, việc hòa giải, hàn gắn tình cảm không thành.
Hôn nhân là nhằm xây dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng tôn trọng, yêu thương nhau, giữ gìn danh dự, nhân phẩm và uy tín cho nhau, giúp nhau cùng tiến bộ... Rõ ràng cuộc hôn nhân của anh Đào Viết H và chị Nguyễn Đặng Diễm N không đạt được mục đích đó. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tạo điều kiện về thời gian cho các bên hòa giải đoàn tụ nhưng không đạt kết quả. Nay chị Nguyễn Đặng Diễm N làm đơn xin ly hôn và anh Đào Viết H cũng đồng ý.
Hội đồng xét xử thấy chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.
- Về con chung:
Chị Nguyễn Đặng Diễm N và anh Đào Viết H có 01 con chung là cháu Đào Trà M, sinh ngày 16/5/2015, hiện đang ở cùng mẹ.
Các tài liệu chứng cứ trong vụ án thể hiện chị N có công việc và mức thu nhập hàng tháng ổn định, có đầy đủ điều kiện nuôi con và đảm bảo được sự phát triển toàn diện của cháu. Cháu M là con gái, còn nhỏ và anh H cũng đồng ý cho cháu được ở với mẹ sau khi ly hôn. Hội đồng xét xử thấy giao cháu Đào Trà M cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án anh H trình bày có công việc ổn định với mức thu nhập 15.000.000 đồng/ tháng. Hội đồng xét xử nhận thấy mức tiền cấp dưỡng nuôi con 4.000.000 đồng/tháng theo sự tự nguyện của anh H là đảm bảo sự phát triển toàn diện của con chung và phù hợp với khả năng và điều kiện kinh tế của anh H cần được ghi nhận. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung và nhà, đất chung: Việc nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong vụ án là hoàn toàn tự nguyện và hợp pháp nên cần đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này theo quy định pháp luật. Ngoài ra các đương sự không có yêu cầu nào khác về chia tài sản chung, nợ chung và nhà, đất chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Nguyễn Đặng Diễm N và anh Đào Viết H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Đặng Diễm N và anh Đào Viết H có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Từ các nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 244, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án Ban hành kèm theo.
Xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Đặng Diễm N.
- Chị Nguyễn Đặng Diễm N được ly hôn với anh Đào Viết H.
- Giao con chung là cháu Đào Trà M, sinh ngày 15/6/2015 cho chị Nguyễn Đặng Diễm N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
Anh Đào Viết H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 4.000.000 đồng/ tháng (bốn triệu đồng mỗi tháng) kể từ tháng 01 năm 2025 đến khi con chung trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác và có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản.
- Về tài sản chung, nợ chung và nhà, đất chung: Đình chỉ xét xử đối với toàn bộ yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng là Căn hộ số 910, CT8A khu đô thị Đ, xã T, huyện T, Hà Nội của chị Nguyễn Đặng Diễm N trong vụ án này. Các yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung và nhà, đất chung khác, các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Nguyễn Đặng Diễm N phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn và được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai tạm ứng án phí số 0006928 ngày 15/01/2024 tại chi Cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Trả lại cho chị Nguyễn Đặng Diễm N số tiền tạm ứng án phí đối với yêu chia tài sản chung vợ chồng là 28.500.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0007296 ngày 02/7/2024 tại chi Cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Anh Đào Viết H phải nộp 300.000 đồng án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Đặng Diễm N và anh Đào Viết H có mặt có quyền kháng cáo trong thời 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội ; - VKSND huyện Thanh Trì; - Chi cục THADS huyện Thanh Trì ; - UBND thị trấn Phố Châu, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh (giấy CNKH số 25/2014 , quyển số 01 - 2012); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Bảo Long |
Bản án số 34/2025/HNGĐ - ST. ngày 23/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 34/2025/HNGĐ - ST.
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Đặng Diễm N.
