|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 34/2025/HNGĐ - ST Ngày: 12 - 3 - 2025 V/v ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nghĩa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sinh Thành
Bà Hoàng Thị Thoan
- Ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Kiều Oanh – Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm ly hôn thụ lý số 52/2024/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1994
Địa chỉ: Thôn S, xã P, huyện B, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Lê Quang H, sinh năm 1991
Địa chỉ trước lúc xuất cảnh: Thôn S, xã P, huyện B, tỉnh Quảng Bình; trú tại: Ibaraki R shi, N – 5kojma haitsu B201, Nhật Bản; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, Bản tự khai chị Nguyễn Thị T (viết tắt là nguyên đơn) trình bày: Nguyên đơn và anh Lê Quang H (viết tắt là bị đơn) yêu nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Quảng Bình vào ngày 28 tháng 6 năm 2013. Sau khi kết hôn anh chị sống phúc được hai năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên thường xuyên cải nhau, năm 2017 bị đơn đi lao động tại Nhật Bản, thời gian đầu còn gọi điện về thăm gia đình; sau một năm thì cắt liên lạc, vợ chồng sống ly thân không quan tâm đến nhau. Thấy tình cảm vợ chồng không còn nên nguyên đơn xin được ly hôn bị đơn.
Về con chung: Vợ chồng nguyên đơn có 01 con chung Lê Bảo T1, sinh ngày 21/4/2014; hiện đang sống với nguyên đơn, sau khi ly hôn nguyên đơn xin được tiếp tục nuôi con và yêu cầu bị đơn đóng góp tiền nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.
Về tài sản chung và nợ: Vợ chồng nguyên đơn không có nên không yêu cầu Toà án xem xét.
Sau khi thụ lý vụ án Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã thực hiện tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định, nhưng không có kết quả hồi âm của bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Quá trình giải quyết, xét xử vụ án, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc thu thập tài liệu, chứng cứ thực hiện đúng quy định và đảm bảo quyền lợi của người tham gia tố tụng. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho nguyên đơn được ly hôn bị đơn; về con chung: Giao nguyên đơn trực tiếp nuôi con chung Lê Bảo T1, sinh ngày 21/4/2014; chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn đóng góp tiền nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ tháng 3/2025 cho đến khi cháu T1 đến tuổi trưởng thành; tài sản chung và nợ, không có nên không xem xét. Buộc nguyên đơn chịu án phí sơ thẩm ly hôn và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật; bị đơn phải chịu án phí cấp dương nuôi con theo định kỳ.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn làm đơn xin ly hôn bị đơn đang cư trú, lao động tại nước ngoài. Tại Thông báo số 1326/CV - QLXNC ngày 13/4/2024 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh Q thì bị đơn đã xuất nhập cảnh nhiều lần và lần gần nhất vào ngày 17/7/2018 đến nay chưa nhập cảnh về Việt Nam; căn cứ khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
[2] Tại phiên toà vắng mặt nguyên đơn nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do nhưng đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần 2; căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Toà án tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[3] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã tiến hành các phương thức tống đạt, thông báo và niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn theo quy định, cụ thể: Toà án đã gửi văn bản tố tụng cho bị đơn theo địa chỉ của nguyên đơn cung cấp nhưng không nhận được kết quả hồi âm của bị đơn. Gia đình bị đơn không rõ địa chỉ của bị đơn cư trú tại Nhật Bản; Tòa án đã thực hiện niêm yết các văn bản tố tụng và thực hiện đăng tin trên kênh đối ngoại V vào các ngày 24, 25 và 26/01/2025 nhưng không có kết quả phúc đáp của bị đơn. Như vậy, bị đơn đã cố tình dấu địa chỉ; căn cứ khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ – HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Điều 474, điểm b khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[4] Nguyên đơn và bị đơn yêu nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Quảng Bình vào ngày 28 tháng 6 năm 2013, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị sống phúc được hai năm thì xảy ra mâu thuẩn, năm 2018 bị đơn xuất cảnh lao động tại Nhật Bản vợ chồng sống ly thân không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Hội đồng xét xử thấy anh chị không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho nguyên đơn được ly hôn bị đơn.
[5] Quá trình thu thập chứng cứ nguyên đơn thừa nhận vợ chồng có 01 con chung Lê Bảo T1, sinh ngày 21/4/2014; hiện đang sống với nguyên đơn. Sau khi ly hôn nguyên đơn xin được tiếp tục nuôi con và yêu cầu bị đơn đóng góp tiền nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.
[6] Hội đồng xét xử thấy bị đơn đang ở nước ngoài không trực tiếp nuôi con được, mặt khác từ lúc sinh ra cho đến nay cháu T1 ở với nguyên đơn; do đó cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa và nguyện vọng của cháu T1 để giao cho nguyên đơn trực tiếp nuôi cháu T2 và chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn đóng góp tiền nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ tháng 3 năm 2025 cho đến khi cháu T1 tròn 18 tuổi.
[7] Nguyên đơn thừa nhận vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn và 3.750.000 đồng chi phí tố tụng. Bị đơn phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.
[9] Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 153, khoản 1 Điều 273, Điều 474, điểm b khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;
- Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Lê Quang H.
- Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung Lê Bảo T1, sinh ngày 21/4/2014.
- Buộc anh Lê Quang H đóng góp tiền nuôi cháu T1 với T mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ tháng 3 năm 2025 cho đến khi cháu Lê Bảo T1 tròn 18 tuổi.
- Về tài sản chung và nợ: Không xem xét
- Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số 0004848 ngày 22/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình; chị T đã nộp đủ án phí vụ kiện. Anh Lê Quang H phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.
- Chị Nguyễn Thị T phải chịu 3.750.000 đồng chi phí tố tụng (chị T đã nộp đủ).
Án xử công khai sơ thẩm báo cho chị Nguyễn Thị T biết, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định. Anh Lê Quang H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Nghĩa |
Bản án số 34/2025/HNGĐ - ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 34/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Th xin ly hôn anh Lê Quang H
