Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 14-02-2025

V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Bích

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Duy Bảo
  2. Bà Trần Nguyệt Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thụy Thùy Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5: Bà Trần Thị Hồng Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 261/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST-HNGĐ – HPT ngày 14 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Diệu H, sinh năm 1985 (có đơn xin vắng mặt)
    Địa chỉ thường trú: Tổ 12 ấp T, xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai
    Địa chỉ tạm trú: Số A lầu C (sau) đường G, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Bị đơn: Ông Vũ Đức D, sinh năm 1984 (vắng mặt)
    Địa chỉ thường trú: Tổ 12 ấp T, xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai
    Địa chỉ tạm trú: Số A lầu C (sau) đường G, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 31 tháng 10 năm 2024 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn - bà Trần Diệu H trình bày:

Bà Trần Diệu H và ông Vũ Đức D đăng ký kết hôn ngày 06/10/2011 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 82, quyển số 01/2011 tại Ủy ban nhân dân Phường X, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Vợ chồng chung sống với nhau được 05 (năm) năm thì cả hai bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã. Mỗi lần vợ chồng cãi nhau thì ông Vũ Đức D thường xuyên có những lời lẽ xúc phạm bà H, có lúc ông D đập đồ trong nhà làm cho bà H tổn thương về tinh thần và lúc nào cũng sống trong trạng thái hoang mang, lo sợ. Mỗi lần bà H và ông D cãi vã đều có mặt của con gái là cháu Vũ Ngọc A Thư chứng kiến gây ảnh hưởng đến tâm lý của cháu, cháu T gần như bị trầm cảm một thời gian.

Bà H đã nhiều lần nhẫn nhịn để gia đình êm ấm, con có cha mẹ đầy đủ nhưng ông D không cùng cố gắng, không có sự thay đổi, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, lúc nào bà H cũng cảm thấy nặng nề, áp lực khi sống cùng ông D. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể nào hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H quyết định ly hôn với ông D để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Bà Trần Diệu H và ông Vũ Đức D có 01 (một) con chung là trẻ Vũ Ngọc Anh T (nữ), sinh ngày 01/12/2012. Bà Trần Diệu H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ T. Bà H không yêu cầu ông Vũ Đức D cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Bà Trần Diệu H và ông Vũ Đức D không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Trần Diệu H và ông Vũ Đức D không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà Trần Diệu H có đơn xin xét xử vắng mặt với lý do bận công việc nên không thể tham gia tố tụng tại Tòa.

* Trong quá trình tố tụng bị đơn - ông Vũ Đức D vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt.

Bị đơn vắng mặt dù được triệu tập hợp lệ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 phát biểu ý kiến:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án. Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng

Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Diệu H. Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Trần Diệu H, bà H được ly hôn với ông Vũ Đức D; Về con chung: Giao cho bà Trần Diệu H là người trực tiếp nuôi dưỡng người con chung là trẻ Vũ Ngọc Anh T (nữ) sinh ngày 01/12/2012. Ghi nhận việc bà Trần Diệu H không yêu cầu ông Vũ Đức D cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Bà H tự khai không có, ông D không có mặt tại Tòa án để cho ý kiến nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Trần Diệu H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Vũ Đức D, do đó xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn”. Căn cứ kết quả xác minh của Công an P, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy ông D hiện đang tạm trú tại số A lầu C (sau) đường G, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự:

Nguyên đơn – bà Trần Diệu H có đơn xin vắng mặt.

Bị đơn – ông Vũ Đức D vắng mặt tại phiên tòa dù được triệu tập hợp lệ. Ông D đã ký nhận trực tiếp các văn bản tố tụng của Tòa án (từ giai đoạn thụ lý đến hết thời điểm xét xử lần 01); được niêm yết hợp lệ giai đoạn xét xử lần 02, bao gồm:

  • Thông báo thụ lý vụ án số 261/2024/TB-TA ngày 14/11/2024;
  • Giấy triệu tập số 261-1/GTT-TA ngày 18/11/2024 (có mặt tại Tòa án lúc 08 giờ 00 phút ngày 11/12/2024); Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 261/TB-TA ngày 08/11/2024;
  • Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 261/TB-TA ngày 12/12/2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 276/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/12/2024; Giấy triệu tập tham gia phiên tòa lần 1 số 261-2/GTT-TA ngày 16/12/2024 (Lúc 14 giờ 00 phút ngày 14/01/2025);
  • Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST-HNGĐ-HPT ngày 14/01/2025; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/01/2025; Giấy triệu tập tham gia phiên tòa lần 2 số 261-2/GTT-TA ngày 14/01/2025 (Lúc 08 giờ 00 phút ngày 14/02/2025).

Do đó, căn cứ quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về nội dung vụ án:

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Trần Diệu H, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Diệu H và ông Vũ Đức D tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường X, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận kết hôn số 82, quyển số 01/2011 ngày 06/10/2011 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Xét quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Diệu H đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ. Ông Vũ Đức D vắng mặt trong tất cả các buổi triệu tập làm việc tại Tòa án nên Tòa án không thể tiến hành tổ chức buổi hòa giải đoàn tụ cho bà H và ông D. Việc bà H không đồng ý hòa giải cũng như việc ông D vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án cũng đã xác định vợ chồng không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này, không còn muốn cho nhau cơ hội để đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, yêu cầu xin ly hôn của bà H là có căn cứ chấp nhận. Quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Diệu H và ông Vũ Đức D chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật là phù hợp theo quy định tại Điều 55, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3.2] Về con chung: Bà Trần Diệu H xác nhận có người con chung với ông Vũ Đức D là trẻ Vũ Ngọc Anh T (nữ), sinh ngày 01/12/2012. Bà H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Vũ Đức D cấp dưỡng nuôi con chung. Trẻ Vũ Ngọc Anh T cũng đã có bản tự khai 19 tháng 11 năm 2024 tại Tòa án với nguyện vọng được sống cùng với mẹ là bà Trần Diệu H. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà H về con chung là có căn cứ nên chấp nhận nên cần thiết giao người con chung là trẻ Vũ Ngọc Anh T cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà H không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Diệu H tự khai xác nhận không có tài sản chung, không có nợ chung, nghĩa vụ dân sự chung. Ông D không có ý kiến, yêu cầu phản tố về vấn đề tài sản chung, nợ chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[3.4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định nêu trên nên có cơ sở chấp nhận.

[4] Về án phí:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 3; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bà Trần Diệu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về tranh chấp hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ Điều 55, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
  • Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 3; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật Thi hành án Dân sự.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Diệu H.

  1. Về hôn nhân: Bà Trần Diệu H được ly hôn với ông Vũ Đức D (Giấy chứng nhận kết hôn số: 82, quyển số 01/2011 ngày 06 tháng 10 năm 2011 đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường X, huyện T, tỉnh Đồng Nai không còn giá trị pháp lý).
  2. Về con chung: Giao người con chung là trẻ Vũ Ngọc Anh T (nữ), sinh ngày 01/12/2012 cho bà Trần Diệu H trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận việc bà Trần Diệu H không yêu cầu ông Vũ Đức D cấp dưỡng nuôi con chung.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà người trực tiếp nuôi dưỡng cùng các thành viên gia đình không được cản trở. Ngược lại, cha, mẹ không trực tiếp nuôi con nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Trong trường hợp có lý do chính đáng, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được luật định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Diệu H tự khai không có tài sản chung; không có nợ chung và đề nghị Tòa án không giải quyết nên Tòa án không xem xét. Ông Vũ Đức D không có ý kiến trình bày cũng như yêu cầu phản tố về vấn đề tài sản chung, nợ chung nên Tòa án không xem xét.
  4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trần Diệu H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp theo Biên lai số 0036483 ngày 14/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H đã thực hiện xong án phí.
  5. Quyền kháng cáo: Bà Trần Diệu H và ông Vũ Đức D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.
  6. Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

THẨM PHÁN

  • - TAND Tp. HCM;
  • - VKSND Quận 5;
  • - Chi cục THADS Quận 5;
  • - UBND phường Xuân Thiện, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai (Giấy CNKH số: 82, quyển số 01/2011 ngày 06/10/2011)
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Ngọc Bích

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 34/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger