|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST
Ngày 18/6/2025
V/v “Xác định cha cho con".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hà Thị Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Vũ Thị Hòa;
- Ông Hoàng Văn Ngân;
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Sơn – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 47/2025/TLST - HNGĐ ngày 10/3/2025 về việc kiện “xác định cha cho con" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2025/QÐST-HNGĐ ngày 02/6/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Dương Thị Thu T sinh năm 1988
Địa chỉ: Tổ C, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Chí D sinh năm 1989
Địa chỉ: Tổ A phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Văn T1 sinh năm 1982
Địa chỉ: Tổ C, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt lần thứ hai, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa nguyên đơn chị Dương Thị Thu T trình bày: Chị và anh Hoàng Văn T1 kết hôn với nhau ngày 21/12/2009 có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn nông trường P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Quá trình chung sống do mâu thuẫn vợ chồng nên chị T đã làm đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Hoàng Văn T1 và đã được Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai giải quyết ly hôn, con chung theo bản án số 66/2024/HNGĐ-ST ngày 27/9/2024. Quá trình chung sống chị và anh T1 chỉ có một người con chung là cháu Hoàng Dương Gia B sinh ngày 30/11/2009. Thời gian chung sống với anh
T1 do vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, thực tế đã sống ly thân từ năm 2012 nên chị T đã có mối quan hệ với người khác là anh Nguyễn Chí D. Trong thời gian có quan hệ với anh D, chị Thủy S được một người con cháu tên Nguyễn Phương H sinh ngày 14/12/2021. Do cháu H sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của chị T và anh T1 nên khi chị T không thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu được. Chị Dương Thị Thu T đã đưa cháu H đi xét nghiệm ADN với anh Nguyễn Chí D, kết quả ADN xác định anh Nguyễn Chí D là cha ruột của cháu Nguyễn Phương H. Để đảm bảo quyền lợi cho cháu Nguyễn Phương H, chị Dương Thị Thu T đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai xác định anh Nguyễn Chi D1 là cha đẻ của cháu Nguyễn Phương H sinh ngày 14/12/2021.
Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Chí D trình bày: Anh Nguyễn Chí D thừa nhận anh có mối quan hệ yêu đường với chị T từ năm 2021 và sinh ra cháu Nguyễn Phương H. Đến nay chị T làm đơn khởi kiện yêu cầu xác định anh là cha của cháu Nguyễn Phương H anh hoàn toàn nhất trí.
Sau khi Toà án thụ lý vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Văn T1 và tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng của Toà án cho anh T1 bằng hình thức niêm yết công khai nhưng anh T1 không có văn bản trả lời và cũng không đến Toà án làm bản tự khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, vì vậy Toà án đã đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đảm bảo đúng trình tự luật định, không vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đảm bảo. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại điều 70, 71,72 Bộ luật tố tụng Dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo điều 70, 73 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Đề nghị Tòa án áp dụng điều 88; Điều 89; Điều 90; Điều 91; khoản 2 Điều 101; khoản 2 điều 102 Luật hôn nhân gia đình; Điều 147; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định anh Nguyễn Chí D sinh ngày 10/5/1989 là cha của cháu Nguyễn Phương H, sinh ngày 14/12/2021 (Theo giấy chứng sinh ngày 14/12/2021 do Bệnh viện Sản nhi tỉnh L cấp)
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về tố tụng: Nguyên đơn nộp đầy đủ các chứng cứ theo quy định. Tranh chấp của vụ án là tranh chấp hôn nhân gia đình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai theo khoản 4 điều 28; khoản 1 điều 35, khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Văn T1 vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do. Căn cứ Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt anh Hoàng Văn T1.
[2]Về nội dung vụ án: Chị Dương Thị Thu T và anh Hoàng Văn T1 kết hôn với nhau ngày 21/12/2009 có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn nông trường P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Đến ngày 27/9/2024 Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai giải quyết ly hôn, con chung theo bản án số 66/2024/HNGĐ-ST, giữa anh T1 và chị T chỉ có một người con chung là cháu Hoàng Dương Gia B sinh ngày 30/11/2009. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Dương Thị Thu T và bị đơn anh Nguyễn Chí D đều xác định, anh chị có mối quan hệ tình cảm từ năm 2021 và sinh ra cháu Nguyễn Phương H. Căn cứ kết quả giám định ADN của Công ty Cổ phần C (G) ngày 11/10/2022 đã kết luận: Anh Nguyễn Chí D có quan hệ huyết thống cha con với cháu Nguyễn Phương H sinh ngày 14/12/2021 độ tin cậy 99,9999%. Như vậy có cơ sở để xác định anh Nguyễn Chí D là cha đẻ của cháu Nguyễn Phương H. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp theo Điều 88; Điều 89; Điều 91; Khoản 2 Điều 101; Khoản 2 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình.
[4]Về án phí: Quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa không có đương sự nào có đơn xin miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm. Do yêu cầu của chị Dương Thị Thu T được chấp nhận nên bị đơn anh Nguyễn Chí D phải chịu 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên chị Dương Thị Thu T nhận chịu thay cho anh Nguyễn Chí D số tiền án phí xét thấy là phù hợp theo điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 88; Điều 89; Điều 90; Điều 91; khoản 2 Điều 101; khoản 2 điều 102 Luật hôn nhân gia đình; Điều 147; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Về án phí: Chị Dương Thị Thu T nhận chịu 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 107 ngày 10/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, chị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Xác định anh Nguyễn Chí D sinh ngày 10/5/1989 là cha đẻ của cháu Nguyễn Phương H, sinh ngày 14/12/2021 (Theo giấy chứng sinh ngày 14/12/2021 do Bệnh viện Sản nhi tỉnh L cấp).
Anh Nguyễn Chí D, chị Dương Thị Thu T có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục liên quan đến quyền nhân thân đối với cháu Nguyễn Phương H theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hà Thị Anh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Vũ Thị Hòa |
Hoàng Văn Ngân |
Hà Thị Anh |
Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về xác định cha cho con
- Số bản án: 34/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xác định cha cho con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị D yêu cầu xác định cha cho con
