TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA ——————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
Bản án số: 34/2025/HNGĐ - ST Ngày 16 - 6 - 2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dương
Ông Lê Thế Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Ánh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 103/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Phạm Hữu C, sinh năm 1994
Địa chỉ: Thôn L, xã C, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Hữu G và luật sư Đoàn Thị Huyền T – Công ty L, Đoàn Luật sư tỉnh T.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1994
Địa chỉ: Thôn L, xã C, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa có mặt anh C, chị S và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh C là luật sư Đoàn Thị Huyền T. Vắng mặt luật sư Nguyễn Hữu G.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Phạm Hữu C trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị S có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện T, nay là thị xã N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 29/01/2019. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm, lối sống không hòa hợp. Từ tháng 5 năm 2023 cho đến nay vợ chồng sống ly thân, ai lo bổn phận người đó, vợ chồng không quan tâm chăm sóc nhau. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, hai bên không thể kéo dài cuộc sống chung, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn chị Nguyễn Thị S.
Về con chung: anh và chị S có 01 con chung là Phạm Linh N, sinh ngày 17/3/2020. Kể từ khi vợ chồng sống ly thân cháu N đang ở cùng với chị S. Tuy nhiên, theo anh C anh có điều kiện nuôi dưỡng con tốt hơn chị S vì thu nhập của anh cao hơn chị S và có sự hỗ trợ của ông bà nội. Mặc dù hiện tại anh đang làm việc ở xa nhà nhưng anh đang đề nghị công ty cho chuyển về N làm việc. Vì vậy, khi ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N và không yêu cầu chị S cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị S trình bày: Chị và anh Chung C sống tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện T, nay là thị xã N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 29/01/2019. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm, lối sống không hòa hợp, mâu thuẫn trầm trọng kể từ giữa năm 2023 và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, chị đưa con về quê ngoại ở xã T, thị xã N sinh sống, ai lo bổn phận người đó, vợ chồng không quan tâm chăm sóc nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị và anh C không thể kéo dài cuộc sống chung, nên chị đồng ý ly hôn với anh Phạm Hữu C.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Linh N, sinh ngày 17/3/2020. Kể từ khi vợ chồng sống ly thân cháu N ở cùng chị và hiện tại cháu đang học trường Mầm non xã T, chị có mở tiệm Spa tại xã T có thu nhập ổn định và có thời gian chăm sóc con, cháu N gắn bó với chị từ nhỏ. Nên khi ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu N, chị S không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh C đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh C, giải quyết cho anh C được ly hôn chị S; về con chung giao cháu N cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng vì anh C có thu nhập ổn định và cao hơn chị S, mặc dù hiện tại anh C đang làm việc tại tỉnh Bắc Giang, nhưng sắp tới anh sẽ xin chuyển về gần nhà để có thời gian chăm sóc con.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Phạm Hữu C. Về hôn nhân giải quyết cho anh C ly hôn chị S; Về con chung: giao cháu Phạm Linh N, sinh ngày 17/3/2020 cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng, chị S không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung,nên không xem xét; Về tài sản chung: anh C và chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét; Về án phí: anh C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: anh C yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn giữa anh và chị S; chị S cư trú tại xã C, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu ly hôn và tình trạng hôn nhân giữa anh C và chị S: Quan hệ hôn nhân giữa anh C và chị S trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng đã sống ly thân mỗi người mỗi nơi từ năm 2023, vợ chồng không gần nhau nên tình cảm phai nhạt, anh C xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn chị S, chị S cũng xác định tình cảm không còn nên đồng ý ly hôn.
Vì vậy, có căn cứ để xác định, hôn nhân giữa anh C và chị S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh C là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.
[3] Về con chung: anh C và chị S có 01 con chung là cháu Phạm Linh N, sinh ngày 17/3/2020, kể từ khi vợ chồng sống ly thân cháu N ở với chị S. Khi ly hôn anh C và chị S đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: anh C và chị S đều có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con. Tuy nhiên, cháu Phạm Linh N là con gái còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ là phù hợp với tâm sinh lý phát triển của trẻ nhỏ, kể từ khi chị S và anh C sống ly thân cháu N ở với chị S cho đến nay được chị S chăm sóc tốt, để đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất và quyền lợi mọi mặt của cháu N và ưu tiên phụ nữ thực hiện chức năng cao quý của người mẹ theo đúng nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu của chị S và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, giao cháu N cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp đảm bảo quyền lợi mọi mặt của cháu N, chị S không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.
[4] Về tài sản chung: anh C và chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Anh C khởi kiện vụ án ly hôn, nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQ14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Phạm Hữu C:
- Về hôn nhân: anh Phạm Hữu C được ly hôn chị Nguyễn Thị S.
- Về con chung: Giao cháu Phạm Linh N, sinh ngày 17/3/2020 cho chị Nguyễn Thị S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Anh Phạm Hữu C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về án phí: Anh Phạm Hữu C phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005907 ngày 26/3/2025.
Quyền kháng cáo: Anh Chung và chị S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án, thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Sơn |
Bản án số 34/2025/HNGĐ - ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 34/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: anh C ly hôn chị S
