|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST Ngày 16-4-2025 V/v “Ly hôn, con chung”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Thanh Quyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Biên
2. Bà Hoàng Thị Hồng
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Thiện - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà:
Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 184/2025/TLST-HNGĐ ngày 21/3/2025 về việc “Ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31/3/2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1987 (Xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà E, đường N, tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
* Bị đơn: Anh Vũ Khắc H1, sinh năm 1977 (Xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà E, đường N, tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/3/2025 và bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
- Về quan hệ vợ chồng: Chị và anh Vũ Khắc H1 kết hôn với nhau ngày 12/3/2008 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố B. Trước khi cưới, vợ chồng anh chị có được tìm hiểu nhau một thời gian. Sau khi cưới, chị về làm dâu gia đình nhà anh H1 ngay. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc từ khi kết hôn đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh H1 không lo lắng làm ăn, không quan tâm vợ con, hay rượu chè nên gánh nặng cuộc sống đè nặng nên vai chị. Vì vậy, cuộc sống vợ chồng chị luôn ngột ngạt, bí bách, không còn tiếng nói chung, không tôn trọng lẫn nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã. Mặc dù đã được hai bên gia đình hoà giải nhiều lần nhưng mâu thuẫn giữa hai vợ chồng vẫn không cả thiện mà ngày càng trầm trọng hơn. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không ai còn quan tâm tới ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh H1.
- Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Vũ Trường T, sinh ngày 24/02/2009 và cháu Vũ Thành Đ, sinh ngày 01/6/2013. Ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi cả 02 con chung, trường hợp không được nuôi cả 02 con chung chị có nguyện vọng được nuôi cháu Vũ Trường T, để anh H1 nuôi cháu Vũ Thành Đ. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung thì chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung, về nghĩa vụ chung về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản ghi lời khai có trong hồ sơ, bị đơn anh Vũ Khắc H1 trình bày:
- Về quan hệ vợ chồng: A và chị Nguyễn Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố B ngày 12/3/2008. Sau khi cưới, chị H về làm dâu gia đình nhà anh ngay và vợ chồng chung sống cùng mẹ anh. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên chị H xin ly hôn anh không đồng ý.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Vũ Trường T, sinh ngày 24/02/2009 và cháu Vũ Thành Đ, sinh ngày 01/6/2013. Trường hợp vợ chồng ly hôn, anh có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Vũ Thành Đ, để chị H nuôi dưỡng cháu Vũ Trường T. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung, anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản xác minh ngày 25/3/2025 bà Đặng Thị B, tổ trưởng tổ dân phố số A, phường N cung cấp: Anh Vũ Khắc H1 và chị Nguyễn Thị H là công dân địa phương, cư trú tại số nhà E, đường N, tổ A, phường N, thành phố B. Anh H1 và chị H kết hôn năm 2008 và về chung sống với nhau ngay. Quá trình chung sống, anh H1 chị H có mâu thuẫn và có sống ly thân hay không thì địa phương không nắm được. Trước đây, chị H vẫn đi làm và về trong ngày nhưng khoảng 1-2 năm gần đây thì không thấy chị H sống cùng anh H1 nữa. Đề nghị Toà án căn cứ theo quy định pháp luật để giải quyết.
Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử công bố các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật trong suốt quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- + Về quan hệ vợ chồng: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Vũ Khắc H1.
- + Về con chung: Giao cháu Vũ Trường T, sinh ngày 24/02/2009 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Giáo cháu Vũ Thành Đ, sinh ngày 01/6/2013 cho anh Vũ Khắc H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét.
- + Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- + Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, con chung với anh Vũ Khắc H1. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, cụ thể là “Ly hôn, con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, con chung” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Vũ Khắc H1 có hộ khẩu thường trú và nơi ở tại phường N, thành phố B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị H, anh H1 theo quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ vợ chồng: Chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Khắc H1 kết hôn ngày 12/3/2008 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Chị H đã cung cấp được bản sao giấy đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H1 là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ, phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Quá trình giải quyết vụ án, chị H xác định không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh H1. Anh H1 xác định vẫn còn tình cảm nên không đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại biên bản ghi lời khai, anh H1 xác định vợ chồng có mâu thuẫn và đã sống ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay. Chị H xác định vợ chồng ly thân từ năm 2022. Đại diện chính quyền địa phương xác định chị H khoảng 1-2 năm nay không còn chung sống cùng anh H1. Do đó, có thể thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh H1 đã trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm tới nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị H xin ly hôn anh H1 là có căn cứ chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Chị H anh H1 xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Vũ Trường T, sinh ngày 24/02/2009 và cháu Vũ Thành Đ, sinh ngày 01/6/2013. Ly hôn, chị H có nguyện vọng được nuôi cả 02 con chung, trường hợp không được nuôi cả 02 con chung thì chị có nguyện vọng nuôi cháu Vũ Trường T. Anh H1 có nguyện vọng được nuôi cháu Vũ Thành Đ để chị Nguyễn Thị H nuôi cháu Vũ Trường T. Hội đồng xét xử xét thấy: Tại bản tự khai cháu T có nguyện vọng được ở cùng chị H, cháu Đ có nguyện vọng được ở cùng anh H1. Bản thân anh H1 cũng có nguyện vọng được nuôi cháu Đ và chị H có nguyện vọng được nuôi cháu T. Do vậy, để đảm bảo việc nuôi con chung cần giao cháu T cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và cần giao cháu Đ cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung chị H, anh H1 không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị H, anh H1 xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án để buộc chị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
[2.5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử cần tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Diều 238; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Xử:
2.1. Về quan hệ vợ chồng: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Vũ Khắc H1.
2.2. Về con chung: Giao cháu Vũ Trường T, sinh ngày 24/02/2009 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao cháu Vũ Thành Đ, sinh ngày 01/6/2013 cho anh V KhắcHuy trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét, giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau ly hôn không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
2.3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0002488 ngày 21/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
2.4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
2.5. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lương Thị Thanh Quyên |
Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, con chung
- Số bản án: 34/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị H xin ly hôn anh Vũ Khắc H
