Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁI THỤY

TỈNH THÁI BÌNH

Số: 34/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 16/4/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thúy và ông Ngô Văn Sang

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thái Thụy

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 21/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025 về việc “tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị G, sinh năm 1979; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình.

- Bị đơn: Anh Vũ Đình M, sinh năm 1977, địa chỉ: Thôn B H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.

(Chị G có đơn xin xét xử vắng mặt, anh M vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng tài liệu chứng cứ đã xuất trình, nguyên đơn chị Đỗ Thị G trình bày và có yêu cầu khởi kiện như sau:

- Chị và anh M tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 05/11/1999. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại thôn B H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, không có tiếng nói chung, vợ chồng không còn quan tâm, yêu thương nhau nữa. Đến tháng 12/2024, chị về ở nhà mẹ đẻ tại thôn Đ, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình. Từ đó, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau nữa. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh M, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh M.

- Về con chung: Vợ chồng chị có ba con chung là: Vũ Thị Hoài N, sinh ngày 05/10/2001; Vũ Thị Ngọc A, sinh ngày 19/10/2007; Vũ Thị Quỳnh T sinh ngày 09/10/2013. Hiện cháu Vũ Thị Hoài N đã trưởng thành, cháu Vũ Thị Ngọc A và Vũ Thị Quỳnh T đang ở với chị tại nhà mẹ đẻ chị. Ly hôn, chị đề nghị Tòa án giải quyết giao hai con chung Vũ Thị Ngọc A và Vũ Thị Quỳnh T cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản: Vợ chồng chị không có tài sản chung, không có nợ chung, không cho ai vay nợ; chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

* Tại biên bản xác minh ngày 12 tháng 02 năm 2025, Ủy ban nhân dân xã T cung cấp:

Chị G và anh M đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T ngày 05/11/1999. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại địa phương, anh M hiện cư trú tại thôn B H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; chưa chuyển khẩu, tách khẩu đi đâu.

Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn như thế nào địa phương không nắm rõ. Nay chị G làm đơn ly hôn anh M, địa phương đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, nếu không được đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định pháp luật để giải quyết.

Chị G và anh M có ba con chung là Vũ Thị Hoài N, sinh ngày 05/10/2001; Vũ Thị Ngọc A, sinh ngày 19/10/2007; Vũ Thị Quỳnh T sinh ngày 09/10/2013. Nếu anh chị ly hôn, đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật, nguyện vọng của con chung để giải quyết đảm bảo quyền lợi và sự phát triển của con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên địa phương không có ý kiến.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy phát biểu quan điểm tại phiên tòa:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự; bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147 BLTTDS, căn cứ điểm a Khoản 5 Điều 27, điểm a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH: Xử cho chị G được ly hôn anh M. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao hai con chung Vũ Thị Ngọc A và Vũ Thị Quỳnh T cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng; anh M không phải cấp dưỡng nuôi con. Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản, nên không đặt ra giải quyết.

Chị G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thẩm quyền: Bị đơn anh Vũ Đình M có nơi cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy theo quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Đỗ Thị G có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Vũ Đình M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. Về quan hệ hôn nhân: Chị G, anh M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống chị G, anh M phát sinh mâu thuẫn nhưng cả hai không có biện pháp để hàn gắn quan hệ hôn nhân, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc đến nhau. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị G và anh M đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị G được ly hôn anh M là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
  4. Về quan hệ con chung: Chị G và anh M có ba con chung là: Vũ Thị Hoài N sinh ngày 05/10/2001; Vũ Thị Ngọc A, sinh ngày 19/10/2007; Vũ Thị Quỳnh T sinh ngày 09/10/2013. Hiện con chung Vũ Thị Hoài N đã thành niên, con chung Vũ Thị Ngọc A và Vũ Thị Quỳnh T đang ở cùng chị G. Ly hôn, chị G có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung Vũ Thị Ngọc A, Vũ Thị Quỳnh T và không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con. Các con chung cũng có nguyện vọng được ở cùng chị G.

    Chị G cung cấp xác nhận nơi chị đang làm việc về mức lương hàng tháng của chị là 15.223.558 đồng. Chị trình bày hiện tại chị có công việc, thu nhập ổn định, có nhà ở đảm bảo việc nuôi con. Vì vậy, để đảm bảo cho sự phát triển ổn định của con chung, trên cơ sở xem xét nguyện vọng của con chung, Hội đồng xét xử thấy cần thiết giao hai con chung Vũ Thị Ngọc A và Vũ Thị Quỳnh T cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng, chấp nhận sự tự nguyện của chị G không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với quy định pháp luật.

  5. Về quan hệ tài sản: Chị G xác định vợ chồng không có nợ chung, không cho ai vay nợ; không yêu cầu giải quyết về tài sản do đó Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về quan hệ tài sản.
  6. Về án phí: Chị G phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị G được ly hôn anh Vũ Đình M.
  2. Về con chung: Giao hai con chung Vũ Thị Ngọc A sinh ngày 19/10/2007; Vũ Thị Quỳnh T sinh ngày 09/10/2013 cho chị Đỗ Thị G trực tiếp nuôi dưỡng. Anh M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Anh M có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản. Chị G, anh M có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật khi cần thiết.

  3. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Đỗ Thị G phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền tạm ứng án phí chị G đã nộp tại biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004464 ngày 05/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy sang thi hành án.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Đỗ Thị G, anh Vũ Đình M vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc tống đạt hợp lệ bản án.

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Thái Thụy;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thái Thụy;
  • - UBND xã Thụy Văn, huyện Thái Thụy;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án; HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 16/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 34/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger