|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2025/HNGĐ- ST Ngày: 12- 6- 2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Thế Hùng
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Gia Khải
- Bà Nguyễn Thị Hường
Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Thu- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên
Trong ngày 12 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 56/2025/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXX-ST ngày 12 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 27/2025/QĐST- HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991
ĐK thường trú: thôn Phố Lầy, xã An Ninh, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
Địa chỉ hiện nay: thôn Năm Thành, xã An Ninh, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
- Bị đơn: anh Đinh Quang Đ, sinh năm 1986
Địa chỉ: thôn P, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình
(Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Đ vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị kết hôn tự nguyện với anh Đinh Quang Đ và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 28/11/2011. Sau khi kết hôn, quá trình chung sống anh Đ thường xuyên chơi bời, rượu chè rồi về đánh chửi chị; vợ chồng không có tiếng nói chung. Chị và anh Đ đã ly thân nhau 05 năm nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn và xin ly hôn anh Đ. Chị và anh Đ có 01 con chung là Đinh Quang M, sinh ngày 13/8/2013. Sau khi ly hôn, chị xin trực tiếp nuôi con chung và chị không yêu cầu anh Đ phải góp cấp dưỡng nuôi con chung. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản.
Bị đơn là anh Đinh Quang Đ đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cũng như được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh Đ không có mặt để tham gia tố tụng và vắng mặt tại phiên tòa. Kết quả xác minh với mẹ đẻ anh Đ là bà Nguyễn Thị Ngọc cung C: Quá trình chung sống giữa anh Đ và chị H phát sinh mâu thuẫn từ hai phía; anh Đ chơi bời còn chị H muốn sống tự do. Vợ chồng bất đồng quan điểm sống và đã sống ly thân. Anh Đ hiện đang làm ăn trong Thành phố Hồ Chí Minh, không có địa chỉ cụ thể nhưng anh Đ vẫn thường xuyên về gia đình. Gia đình đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án cùng các văn bản tố tụng của Toà án và đã thông báo cho anh Đ biết và anh Đ thông qua gia đình trình bày quan điểm với Tòa án như sau: Anh Đ do bận công việc nên không đến Tòa án giải quyết được. Nếu chị H cương quyết ly hôn thì anh cũng nhất trí ly hôn và anh tôn trọng ý kiến của con chung muốn ở với chị H anh cũng đồng ý. Anh Đ không trình bày ý kiến, yêu cầu gì về quan hệ tài sản.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên toà: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; về quan hệ hôn nhân cần xử cho chị H được ly hôn anh Đ; về quan hệ con chung, xử giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Đinh Quang M, sinh ngày 13/8/2013. Anh Đ không phải góp cấp dưỡng nuôi con cho chị H; về quan hệ tài sản: không đặt ra giải quyết. Chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
- Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đinh Quang Đ xây dựng trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, theo chị H khai quá trình chung sống anh Đ thường xuyên chơi bời, rượu chè rồi về đánh chửi chị; vợ chồng không có tiếng nói chung và đã ly thân 05 năm nay. Về phía anh Đ cũng nhất trí ly hôn chị H. Xét mâu thuẫn giữa chị H và anh Đ đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của chị H, xử cho chị H được ly hôn anh Đ là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung: Chị H có yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Đinh Quang M, sinh ngày 13/8/2013 và không yêu cầu anh Đ phải góp cấp dưỡng nuôi con chung. Con M cũng có nguyện vọng ở với mẹ và anh Đ cũng đồng ý. Vì vậy, cần giao con C1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ tài sản: chị H và anh Đ đều không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Đinh Quang Đ.
- Về quan hệ con chung: xử giao cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Đinh Quang M, sinh ngày 13/8/2013 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định. Anh Đ không phải góp cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H. Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002427 ngày 18/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình thành tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: chị Nguyễn Thị H và anh Đinh Quang Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thế Hùng |
Bản án số 34/2025/HNGĐ- ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 34/2025/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa chị H và anh Đ
