Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 34/2025/HNGĐ - ST

Ngày 11/12/2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi

con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Rạng Đông

Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Phương, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang tham gia phiên toà: Ông Trần Quốc Toản - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - An Giang xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 30/2025/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 05/11/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2025/QÐST-HNGĐ ngày 24/11/2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Võ Thị N, sinh năm 1996.
  • Địa chỉ: Tổ A, khu phố H D, đặc khu P, tỉnh An Giang.
  • (Có đơn xin giải quyết vắng mặt)
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Huỳnh Tuấn K, sinh năm 1993 – (Có mặt)
  • Địa chỉ: Tổ A, khu phố H D, đặc khu P, tỉnh An Giang.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Huỳnh Thị Bé B, sinh năm 1957. (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Tổ A, khu phố H D, đặc khu P, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Võ Thị N trình bày:

Về hôn nhân:

Vào năm 2017 bà Võ Thị N và ông Nguyễn Huỳnh Tuấn K tự nguyện tìm hiểu quen biết nhau tại L, An Giang, sau đó cả hai về chung sống chồng có tổ chức đám cưới theo phong tục của địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là UBND xã T, tỉnh Vĩnh Long) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 29/2018 ngày 01/3/2018.

Sau khi kết hôn vợ chồng bà N, ông K cùng sống chung nhà với gia đình ông K tổ A, khu phố H, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang (Nay là tổ A, khu phố H D, đặc khu P, tỉnh An Giang).

Thời gian đầu vợ chồng chung sống vui vẻ, hạnh phúc và có với nhau 02 người con chung. Tuy nhiên, đến tháng 7/2020 thì ông K vi phạm pháp luật và phải đi chấp hành án phạt tù. Trong thời gian đó, một mình bà N vừa đi làm và chăm lo cho 02 con nhỏ. Đến tháng 6/2025 thì ông K chấp hành xong án phạt tù trở về nhà, nhưng trong ngày đầu về nhà thì ông K đã có hành vi đánh đập bà N và ông K cũng không có trách nhiệm của một người chồng, người cha lo cho gia đình mà chỉ biết ăn chơi và tụ tập ăn nhậu với bạn bè. Ngoài ra, vào ngày 12/10/2025 ông K cũng đã có hành vi hành hung bà N với lý do ghen tuông, nghi ngờ bà N quen người đàn ông khác dù bà N có giải thích là bà không có hành vi như ông K suy đoán, bà cũng có trình báo Công an đặc khu P giải quyết sự việc ông K đánh bà nhưng Công an khuyên hai vợ chồng về tự giải quyết với nhau.

Sau khi vợ chồng bà xảy ra mâu thuẫn tình cảm thì gia đình hai bên có biết chuyện mâu thuẫn của vợ chồng bà và có biết chuyện bà bị ông K bạo hành, cả hai bên gia đình đều đồng ý cho bà quyết định ly hôn với ông K, vì cuộc sống hôn nhân của bà và ông K đã trầm trọng, hôn nhân thật sự tan vỡ, không thể hoà hợp được nữa.

Bà và ông K đã sống ly thân với nhau từ sau khi ông K ra khỏi tù. Bà và ông K sống cùng dãy trọ tại Tổ A, khu phố H D, đặc khu P, tỉnh An Giang nhưng không cùng phòng trọ và xa cách với nhau.

Bà N xác định bà không còn tình cảm vợ chồng với ông K, do bà và ông K đã sống ly thân nhau, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau và bà thường xuyên bị ông K bạo hành nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Huỳnh Tuấn K.

Về con chung:

Trong quá trình chung sống bà và ông K có với nhau hai người con chung là Nguyễn Huỳnh Thiên Â, sinh ngày 01/5/2018 và Nguyễn Huỳnh Nhã U, sinh năm 18/01/2020.

Theo đơn khởi kiện ban đầu bà N yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc cả 02 con chung và yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung cùng bà, với mức cấp dưỡng mỗi người con là 3.000.000 đồng/tháng, cho đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án bà N thay đổi yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Bà chỉ yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung tên Nguyễn Huỳnh Nhã U, sinh ngày 18/01/2020 đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi, do cháu U còn nhỏ chỉ mới được 5 tuổi và hiện nay cháu U đang sống cùng với bà, còn cháu Nguyễn Huỳnh Thiên Â, sinh ngày 01/5/2018 bà yêu cầu giao cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng do cháu  hiện đang sống cùng cha mẹ ông K và ông K, được cha mẹ ông K chăm sóc tốt từ việc ăn ở, đưa rước đi học. Bà không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi cháu U cùng bà cũng như bà không phải cấp dưỡng nuôi cháu  cùng ông K. Trường hợp ông K không đồng ý nuôi cháu  thì bà đồng ý nuôi cháu Â, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con cùng bà.

Về tài sản chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng bà không tạo lập tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng bà không có nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng, nên bà cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Nguyễn Huỳnh Tuấn K trình bày:

Vào năm 2017 ông và bà Võ Thị N quen biết nhau tại L, An Giang là do tự nguyện tìm hiểu nhau, không được ai mai mối giới thiệu. Ông và bà N có tổ chức đám cưới theo phong tục của địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là UBND xã T, tỉnh Vĩnh Long), theo giấy chứng nhận kết hôn số 29/2018 ngày 01/3/2018.

Sau khi kết hôn vợ chồng ông sống chung nhà với cha mẹ ruột của ông tại tổ A, khu phố H, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang (Nay là tổ A, khu phố H D, đặc khu P, tỉnh An Giang).

Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống chung với nhau vui vẻ, hoà thuận và có với nhau 02 người con chung. Đến năm 2020, do ông vi phạm pháp luật nên phải đi chấp hành án phạt tù ở Trại giam K1, huyện U, tỉnh Kiên Giang (nay là tỉnh An Giang) đến tháng 6/2025 thì ông chấp hành án về. Tuy nhiên, khi ông về nhà thì có nghe thông tin bà N quen người khác, nên ông có ghen tuông và tra hỏi bà N, bà N giải thích không rõ ràng nên ông cũng có hành vi đánh bà N và đập điện thoại của bà N, từ đó vợ chồng ông phát sinh mâu thuẫn.

Khi ông biết bà N muốn ly hôn thì ông có gọi điện thoại cho mẹ của bà N hỏi chuyện thì bà nói bà không biết chuyện, nhưng gia đình hai bên đều đồng ý và tôn trọng quyết định của hai vợ chồng.

Ông K xác định ông và bà N đã sống ly thân với nhau từ sau khi ông ra khỏi tù từ tháng 6/2025 nên vợ chồng đã xa cách nhau, không còn tình cảm vợ chồng với nhau, không còn sự quan tâm yêu thương nhau như trước đây, nên bà N yêu cầu được ly hôn với ông thì ông cũng đồng ý ly hôn với bà N để mỗi người có cuộc sống riêng.

Về con chung: Vợ chồng ông có hai người con chung tên là Nguyễn Huỳnh Thiên Â, sinh ngày 01/5/2018 và Nguyễn Huỳnh Nhã U, sinh ngày 18/01/2020 đúng như bà N trình bày. Do trước đây vợ chồng ông sống cùng nhà với cha mẹ ruột của ông tại địa chỉ tổ A, khu phố H, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang (Nay là tổ A, khu phố H, đặc khu P, tỉnh An Giang), nên từ nhỏ 02 con chung của ông và bà N được cha mẹ ruột của ông luôn quan tâm, yêu thương chăm sóc tốt. Sau khi bà N nộp đơn ly hôn và đến hiện tại đã dẫn cháu nhỏ là Nhã U bỏ nhà đi và không rõ mang con đi đâu, còn cháu  hiện vẫn đang sống cùng nhà với ông và cha mẹ ruột của ông. Trước khi mở phiên tòa xét xử vụ án thì ông K yêu cầu được giành quyền nuôi dưỡng cả hai con chung đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi 02 con chung cùng ông. Trường hợp bà N không đồng ý giao lại cháu U để ông nuôi dưỡng thì ông yêu cầu để bà N trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, ông không phải cấp dưỡng nuôi hai con cùng bà N. Tuy nhiên, tại phiên tòa xét xử vụ án ngày 11/12/2025 ông K thống nhất với ý kiến của bà N đó là mỗi người sẽ trực tiếp nuôi dưỡng một người con chung, cụ thể bà N trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nhã U, còn ông K trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thiên  đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cùng bên nào.

Về tài sản chung: Ông K xác định ông và bà N không có tạo lập tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông xác định vợ chồng ông không nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng, nên cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản lấy lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Huỳnh Thị Bé B ngày 04/11/2025, bà Bé B trình bày:

Bà là mẹ ruột của Nguyễn Huỳnh Tuấn K, còn Võ Thị N là con dâu của bà. Sau khi K và Như kết hôn thì vợ chồng K, N sống cùng nhà với gia đình bà tại địa chỉ tổ A, khu phố H, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang (Nay là tổ A, khu phố H, đặc khu P, tỉnh An Giang) từ trước cho đến nay. Hiện tại, thì N mới bỏ nhà đi thời gian gần đây và có dẫn cháu gái của bà là Nguyễn Huỳnh Nhã U đi cùng.

Sau khi vợ chồng Võ Thị N và Nguyễn Huỳnh Tuấn K xảy ra mâu thuẫn thì vợ chồng bà có biết chuyện và có khuyên hai con suy nghĩ kỹ vì vợ chồng còn 02 đứa con chung còn nhỏ, nhưng sau đó vợ chồng K và N vẫn tiếp tục mâu thuẫn. Tuy nhiên, đối với việc Như nộp đơn xin ly hôn với Kiệt con của bà thì bà tôn trọng quyết định của N và K, để hai con tự giải quyết.

Còn về 02 đứa con chung của N và K là cháu Nguyễn Huỳnh Thiên Â, sinh ngày 01/5/2018 và Nguyễn Huỳnh Nhã U, sinh ngày 18/01/2020 từ nhỏ đã được bà và chồng bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu cho đến hiện tại. Chồng bà là ông Nguyễn Trọng Y là người đưa rước hai cháu nhỏ đi học, chỉ có buổi tối là hai cháu ngủ với mẹ, còn mọi việc từ tắm rửa, ăn uống, đưa rước đi học đều do bà và chồng bà chăm lo cho các cháu. Tuy nhiên, sau khi N nộp đơn xin ly hôn với K và thời gian gần đây Như đã dẫn cháu U rời khỏi nhà không còn sống cùng với gia đình bà nữa, chỉ còn cháu  hiện vẫn sống cùng với K và vợ chồng của bà.

Trường hợp Tòa án giải quyết cho N và K ly hôn, bà yêu cầu để cho vợ chồng bà được nuôi dưỡng, chăm sóc 02 cháu Nguyễn Huỳnh Thiên  và Nguyễn Huỳnh Nhã U vì các cháu còn nhỏ và từ nhỏ đã quen sống với vợ chồng bà cho đến nay. Hiện tại tuy bà đã lớn tuổi không còn đi làm gì ở bên ngoài, nhưng gia đình bà có dãy nhà trọ cho thuê nên thu nhập mỗi tháng khoảng 30.000.000 đồng đảm bảo đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng và chăm lo cho các cháu. Bà và chồng bà vẫn còn sức khỏe đảm bảo nuôi dưỡng hai cháu, ngoài ra, K cũng đã chấp hành án xong và làm việc tại nhà nên có thể giúp vợ chồng bà chăm sóc và đưa rước các cháu đi học. Tuy nhiên, mọi quyết định của K bà đều tôn trọng và đồng ý theo. Trường hợp K yêu cầu giao cả hai con chung cho Như nuôi thì bà vẫn đồng ý theo ý kiến của K.

Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng:

Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử và trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 và Điều 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: bà Võ Thị N khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Huỳnh Tuấn K, ông K cũng đồng ý ly hôn với bà N, do đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 9 và Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Võ Thị N và ông Nguyễn Huỳnh Tuấn K.

Về con chung: Bà Võ Thị N và ông Nguyễn Huỳnh Tuấn K đều có ý kiến trình bày thống nhất mỗi người sẽ nuôi dưỡng một người con chung, theo đó bà N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Huỳnh Nhã U, sinh ngày 18/01/2020, còn ông K sẽ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Huỳnh Thiên Â, sinh ngày 01/5/2018 đến khi các con chung đủ 18 tuổi, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cùng bên nào.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Huỳnh Thiên  cho ông Nguyễn Huỳnh Tuấn K, giao cháu Nguyễn Huỳnh Nhã U cho bà Võ Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông K, bà N được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con do các đương sự không yêu cầu nên miễn xét.

Đồng thời, đình chỉ yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà N, do bà N đã không còn yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Do bà N và ông K đều xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án xem xét nên đề nghị miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

[1].Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết của tòa án: Bị đơn ông Nguyễn Huỳnh Tuấn K có nơi cư trú tại địa bàn đặc khu P, tỉnh An Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 – An Giang theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Q về thành lập TAND cấp tỉnh, TAND khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của TAND cấp tỉnh, TAND khu vực.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà Võ Thị N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, còn bà Huỳnh Thị Bé B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lí do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:

Vào năm 2017 bà Võ Thị N và ông Nguyễn Huỳnh Tuấn K tự nguyện tìm hiểu quen biết nhau tại thành phố L, tỉnh An Giang, sau đó cả hai có tổ chức đám cưới theo phong tục của địa phương và đến năm 2018 bà N và ông K có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là UBND xã T, tỉnh Vĩnh Long) Giấy chứng nhận kết hôn số 29/2018 ngày 01/3/2018, nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn vợ chồng ông K, bà N sống chung nhà với gia đình ông K tại tổ A khu phố H, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang (Nay là tổ A, khu phố H D, đặc khu P, tỉnh An Giang). Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống chung vui vẻ, hạnh phúc và có với nhau 02 người con chung. Tuy nhiên, đến tháng 7/2020 thì ông K vi phạm pháp luật và phải đi chấp hành án phạt tù ở Trại giam K1, huyện U, tỉnh Kiên Giang (cũ). Đến tháng 6/2025 thì ông K chấp hành xong án phạt tù trở về nhà nhưng trong ngày đầu về nhà thì ông K và bà N xảy ra mâu thuẫn do ông K nghi ngờ bà N quen người khác nên có hành vi đánh đập bà N, từ đó dẫn đến tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, sau đó vợ chồng tiếp tục phát sinh mâu thuẫn, cãi vã nhau, mặc dù đã được gia đình hai bên biết chuyện và khuyên giải nhưng không có kết quả, vợ chồng vẫn xảy ra mâu thuẫn tình cảm.

Bà N xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông K do hiện nay cả hai đã sống ly thân nhau từ khi ông K chấp hành án trở về nhà vào tháng 6/2025, cả hai không còn sự quan tâm, yêu thương chăm sóc nhau, mối quan hệ hôn nhân đã lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông K. Ông K cũng đồng ý ly hôn với bà N, ông cũng xác định ông không còn tình cảm vợ chồng với bà N và đã sống ly thân với bà N từ thời điểm ông trở về nhà.

Hội đồng xét xử nhận thấy, mối quan hệ hôn nhân giữa bà Võ Thị N và ông Nguyễn Huỳnh Tuấn K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, có hành vi bạo lực gia đình và hay xảy ra cự cãi nhau, cả hai đã sống ly thân nhau từ tháng 6/2025 cho đến nay đã không còn sự quan tâm, yêu thương, chăm sóc và giúp đỡ nhau trong cuộc sống, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng thêm lạnh nhạt. Trong quá trình giải quyết vụ án bà N vẫn kiên quyết xin được ly hôn với ông K và ông K cũng có ý kiến đồng ý thuận tình ly hôn với bà N. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 9 và Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Võ Thị N và ông Nguyễn Huỳnh Tuấn K.

[2.2]. Về con chung:

Bà N và ông K cùng xác nhận vợ chồng có với nhau được 02 người con chung tên là Nguyễn Huỳnh Thiên Â, sinh ngày 01/5/2018 và Nguyễn Huỳnh Nhã U, sinh ngày 18/01/2020. Đối với con chung là Nguyễn Huỳnh Thiên  đang sống cùng với ông K và cha mẹ ruột ông K tại Tổ A, khu phố H D, đặc khu P, tỉnh An Giang, còn cháu Nguyễn Huỳnh Nhã U hiện đang sống cùng với bà Võ Thị Như .

Theo đơn khởi kiện ban đầu, bà N yêu cầu được nuôi dưỡng cả hai con chung, yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi các con chung cùng bà mỗi tháng là 3.000.000 đồng/người con, cho đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi. Sau đó, bà N thay đổi yêu cầu khởi kiện, bà chỉ yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đối với con chung là Nguyễn Huỳnh Nhã U, còn con chung Nguyễn Huỳnh Thiên  sẽ do ông K và cha mẹ ông K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cùng bên nào.

Tại phiên tòa, ông K cũng thống nhất với ý kiến của bà N. Ông đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Huỳnh Thiên Â, sinh ngày 01/5/2018, do cháu  hiện đang sống cùng với ông K và cha mẹ ruột ông K, được chăm sóc tốt mọi mặt từ việc ăn ở, học tập đều được đảm bảo. Còn cháu Nguyễn Huỳnh Nhã U hiện đang sống cùng với bà N nên ông đồng ý để bà N trực tiếp nuôi dưỡng cháu U, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cùng bên nào.

Hội đồng xét xử thấy rằng, hiện nay cháu Thiên  đã được 07 tuổi và đang sống cùng với ông K và cha mẹ ông K, được ông K và cha mẹ ruột của ông K chăm sóc, nuôi dưỡng tốt, đảm bảo điều kiện mọi mặt để tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Â, cháu  cũng đang đi học lớp 14 tại Trường Tiểu học D tại đặc khu P, tỉnh An Giang, cháu  cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng cha và ông, bà nội. Còn cháu Nhã U hiện nay còn nhỏ chỉ mới 05 tuổi và đang sống cùng bà N, cần được sự quan tâm, yêu thương chăm sóc từ bà N và đảm bảo cuộc sống ổn định của cháu U. Vì vậy, để đảm bảo sự ổn định về môi trường sống, học tập của các con chung, Hội đồng xét xử cần ghi nhận ý kiến của bà N và ông K về việc bà N được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu U, còn ông K được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu  đến khi các con chung đủ 18 tuổi, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cùng bên nào là phù hợp với quy định của pháp luật theo Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Theo yêu cầu khởi kiện ban đầu bà N yêu cầu ông K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung cùng bà mỗi tháng là 6.000.000 đồng (mỗi người con là 3.000.000 đồng/tháng). Tuy nhiên, sau đó bà N và ông K đã thống nhất về việc nuôi con chung và không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con chung. Như vậy, xem như bà N đã tự nguyện rút lại yêu cầu khởi kiện về cấp dưỡng nuôi con, do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự cần đình chỉ đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà N.

Tuy nhiên, vì lợi ích mọi mặt của các con chung, khi cần thiết một hoặc cả hai bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

[2.3]. Về tài sản chung: Bà Võ Thị N và ông Nguyễn Huỳnh Tuấn K đều xác định vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4]. Về nợ chung: Bà Võ Thị N và ông Nguyễn Huỳnh Tuấn K đều xác định vợ chồng không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Xét đề nghị của đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang về việc giải giải quyết vụ án là phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Về án phí:

- Nguyên đơn bà Võ Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000424 ngày 04/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang, bà Võ Thị N được nhận lại số tiền 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng).

- Bị đơn ông Nguyễn Huỳnh Tuấn K phải chịu án ly hôn sơ thẩm là 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

[5]. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 9, 55, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị N đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị N về việc xin ly hôn và tranh chấp nuôi con chung với bị đơn ông Nguyễn Huỳnh Tuấn K.
  • - Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Võ Thị N và ông Nguyễn Huỳnh Tuấn K.
  • - Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Huỳnh Thiên Â, sinh ngày 01/5/2018 cho ông Nguyễn Huỳnh Tuấn K được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giao con chung tên Nguyễn Huỳnh Nhã U, sinh ngày 18/01/2020 cho bà Võ Thị N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, cho đến khi các con chung trưởng thành đủ 18 tuổi. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cùng bên nào.

Tuy nhiên, vì lợi ích mọi mặt của các con chung, khi cần thiết một hoặc cả hai bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

  • - Về tài sản chung: Bà Võ Thị N và ông Nguyễn Huỳnh Tuấn K đều xác định vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Về nợ chung: Bà Võ Thị N và ông Nguyễn Huỳnh Tuấn K đều xác định vợ chồng không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  1. Về án phí:
  • - Nguyên đơn bà Võ Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000424 ngày 04/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang, bà Võ Thị N được nhận lại số tiền 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
  • - Bị đơn ông Nguyễn Huỳnh Tuấn K phải chịu án ly hôn sơ thẩm là 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
  1. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND KV 2 - An Giang;
  • - Phòng THADS KV 2- An Giang;
  • - UBND xã Tân An, tỉnh Vĩnh Long
  • (GCNKH số 29 ngày 01/3/2018);
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HNGĐ - ST ngày 11/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - AN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 34/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa bà Võ Thị Nh và ông Nguyễn Huỳnh Tuấn K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger