|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST Ngày: 08-4-2025 V/v tranh chấp về Hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Tuấn Vương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Quang Hưng.
- Ông Nguyễn Giang Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 148/2024/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp về Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 2 năm 2025 và quyết định hoãn phiên toà số 24/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025 giữa:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thương T, sinh năm 1993; (vắng mặt)
HKTT: Thôn G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An;
Địa chỉ hiện nay: Số A, đường số B, C, hẻm F, khu T, thành phố Đ, Đài Loan.
Bị đơn: Anh Vũ Duy K, sinh năm 1990; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*/ Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai của nguyên đơn nộp cho Tòa án, chị Lê Thị Thương T yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ hôn nhân với anh Vũ Duy K và trình bày cụ thể như sau:
Chị Lê Thị Thương T và anh Vũ Duy K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình vào ngày 30/01/2012. Quá trình chung sống, anh chị đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh chị không hợp nhau về tính cách và bất đồng quan điểm sống. Vì vậy, anh chị thường xuyên xảy ra cãi vã. Mâu thuẫn ngày càng gay gắt. Anh chị sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh K.
Về con chung: Chị T và anh K có hai con chung là Vũ Gia B, sinh ngày 02/8/2012 và Vũ Thái D, sinh ngày 16/7/2016. Hiện nay hai con chung đang ở với anh K. Ly hôn, chị đề nghị Toà án giao cả hai con chung cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng, anh chị đã thoả thuận việc cấp dưỡng cho con nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh K không có tài sản chung, không có nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản.
Hiện nay chị đang sinh sống tại Đài Loan, chị đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt chị.
*/ Anh Vũ Duy K đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh K không đến Toà án làm việc và không có ý kiến trình bày nộp cho Tòa án.
*/ Bà Nguyễn Thị L – Mẹ đẻ của anh Vũ Duy K trình bày: Anh K và chị T kết hôn năm 2012 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, anh chị sống cùng vợ chồng bà tại thôn Đ, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình. Thời gian đầu anh chị chung sống vui vẻ, hạnh phúc. Đến khoảng năm 2019 thì anh chị đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Đến năm 2021 anh K trở về địa phương sống cùng vợ chồng bà và hai con còn chị T vẫn ở Đài Loan. Từ năm 2021 đến nay chị T chưa về nước lần nào. Theo bà L, từ năm 2021 do anh chị ở xa nhau nên đã nảy sinh mâu thuẫn. Nay chị T có đơn xin ly hôn anh K, bà đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh K đã nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án và giấy báo của Toà án. Anh K nói với bà là vợ chồng anh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Anh đồng ý ly hôn chị T vì anh chị không thể hoà giải được mâu thuẫn. Tuy nhiên, do công việc bận mải nên anh K không đến Toà án làm việc được. Về con chung: Chị T và anh K có hai con chung là Vũ Gia B, sinh ngày 02/8/2012 và Vũ Thái D, sinh ngày 16/7/2016. Từ khi anh K và chị T đi Đài Loan đến nay hai cháu đều ở với vợ chồng bà. Bà nghe anh K nói là anh chị đã thoả thuận giao hai con cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng. Anh chị cũng thoả thuận cả việc cấp dưỡng cho con nhưng bà không được biết cụ thể. Nếu anh chị ly hôn bà đề nghị Toà án giao hai con cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng để hai cháu ổn định việc sinh hoạt, học tập. Vợ chồng bà sẽ hỗ trợ anh K trong việc chăm sóc con cái. Hiện nay anh K làm nghề tự do tại địa phương và vẫn chung sống cùng vợ chồng bà.
*/ Uỷ nhân dân xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình cung cấp: Chị Lê Thị Thương T và anh Vũ Duy K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình vào ngày 30/01/2012. Sau khi kết hôn anh chị chung sống cùng với bố mẹ đẻ anh K tại thôn Đ, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình. Đến năm 2019 thì anh K và chị T đều đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Đến khoảng năm 2021 thì anh K trở về địa phương sống cùng bố mẹ đẻ và hai con còn chị T vẫn ở Đài Loan. Từ năm 2021 đến nay chị T chưa trở về địa phương lần nào. Trước khi đi xuất khẩu lao động, địa phương thấy chị T và anh K chung sống với nhau bình thường, không có mâu thuẫn gì. Vì vậy, địa phương không nắm được mâu thuẫn giữa chị T và anh K. Nay chị T có đơn xin ly hôn anh K, địa phương đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị T và anh K có hai con chung là Vũ Gia B, sinh ngày 02/8/2012 và Vũ Thái D, sinh ngày 16/7/2016. Hiện nay, hai con chung đang ở với anh K và ông bà nội tại địa phương. Nếu anh chị ly hôn, địa phương đề nghị Toà án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết về con chung, đảm bảo về quyền lợi về mọi mặt cho các cháu. Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh K không nợ tổ chức, đoàn thể nào tại địa phương.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng. Nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 147, 235, 238, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ vào Điều 6, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị T được ly hôn anh K. Về con chung: Ly hôn, giao cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là Vũ Gia B, sinh ngày 02/8/2012 và Vũ Thái D, sinh ngày 16/7/2016, không đặt ra việc cấp dưỡng cho con. Về quan hệ tài sản: không đặt ra giải quyết. Án phí: Buộc chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
-
[1] Về Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án và thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đều đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn như cung cấp lời khai, các chứng cứ chứng minh và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
-
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
-
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị Thương T và anh Vũ Duy K được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 30/01/2012, được xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống anh chị đã nảy sinh mâu thuẫn. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Khi Toà án thụ lý giải quyết vụ án, anh K đã biết nhưng không đến Toà án trình bày quan điểm. Như vậy cho thấy anh K cũng không quan tâm đến việc tìm cách giải quyết mâu thuẫn vợ chồng. Xét thấy hôn nhân giữa chị T và anh K là có thật, đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung đã chấm dứt, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy cần căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, cho chị T được ly hôn anh K.
-
[2.2] Về quan hệ con chung: Chị T và anh K có hai con chung là Vũ Gia B, sinh ngày 02/8/2012 và Vũ Thái D, sinh ngày 16/7/2016. Từ khi chị T đi Đài Loan đến nay, hai con chung ở với anh K và ông bà nội. Xét nguyện vọng của chị T, nguyện vọng của hai con chung đều muốn được với anh K nên mặc dù anh K vắng mặt, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cả hai con chung cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo sự ổn định về sinh hoạt và học tập cho các con. Chị T trình bày đã thoả thuận với anh K về việc cấp dưỡng cho con nên không đặt ra giải quyết.
-
[2.3] Về quan hệ tài sản và nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh K không đến Toà án làm việc, không có văn bản trình bày về tài sản, vì vậy không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
-
-
[3] Về án phí: Chị T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 238; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.
-
[1] Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị T T được ly hôn anh Vũ Duy K.
-
[2] Về quan hệ con chung: Giao cho anh Vũ Duy K trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là Vũ Gia B, sinh ngày 02/8/2012 và Vũ Thái D, sinh ngày 16/7/2016. Không đặt ra việc cấp dưỡng cho con.
Chị Lê Thị Thương T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng cho con được đặt ra giải quyết khi có yêu cầu.
-
[3] Về quan hệ tài sản: Không đặt ra giải quyết.
-
[4] Về án phí: Chị Lê Thị Thương T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị T đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 0000331 ngày 22 tháng 10 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị Lê Thị Thương T, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. Vắng mặt anh Vũ Duy K, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Chu Tuấn Vương |
Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 34/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp về Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, giải quyết con chung khi ly hôn
