|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST
Ngày 08 tháng 4 năm 2025
V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: | Ông Trần Đình Chi |
| Các hội thẩm nhân dân: | Bà Nguyễn Thị Phẩm |
| Bà Bùi Thị Hảo |
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga – Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hoa - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2025/TLST- HNGĐ ngày 21/01/2025 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 07/3/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24/3/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Thúy H, sinh ngày 20/9/1988; Giấy chứng minh nhân dân số [...]; Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 28/6/2021; địa chỉ đăng ký thường trú: Tổ A, khu L, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nơi ở hiện tại: Đ, khu H, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến H1, sinh ngày 15/11/1984; Giấy chứng minh nhân dân số [...] do Công an tỉnh P cấp ngày 09/10/2006; địa chỉ đăng ký thường trú: Khu Đình, xã C (nay là khu T, xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ. Hiện đang sinh sống tại nước Ả rập thống nhất (không rõ địa chỉ cụ thể). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn chị Hoàng Thị Thúy H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Tiến H1 đăng ký kết hôn ngày 01/02/2011 tại Ủy ban nhân dân xã C (nay là xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc hay lừa dối. Sau khi kết hôn, anh chị đi lao động tại nước ngoài. Năm 2014, chị H về Việt Nam sinh con rồi lại tiếp tục đi làm việc tại nước ngoài trong các khoảng thời gian 2015-2017 và 2019-2021, sau đó về hẳn Việt Nam sinh sống ổn định. Còn anh H1 thì chỉ về thăm nhà trong thời gian ngắn rồi tiếp tục lao động tại nước ngoài. Kể từ năm 2018, anh chị không sống cùng nhau, không liên lạc, đến nay không còn quan tâm đến nhau. Hiện nay, nhận thấy mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã trầm trọng, mỗi người sống một nơi, đã ly thân nhiều năm, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H1.
- Về con chung: Chị và anh H1 có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Gia H2, sinh ngày 05/9/2014. Chị đề nghị Tòa án tuyên giao cháu H2 cho chị trực tiếp nuôi sau khi ly hôn cho đến cháu H2 thành niên.
- Về cấp dưỡng: Chị không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và công sức đóng góp trong thời kỳ hôn nhân: Chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung và các nghĩa vụ khác: Chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Thân nhân của anh Nguyễn Tiến H1 là ông Nguyễn Công Đ, sinh năm 1962 và bà Hoàng Thị P, sinh năm 1963; đều có địa chỉ: khu T, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ (là cha mẹ đẻ của anh Nguyễn Tiến H1) trình bày:
Hiện nay, con đẻ của ông bà là anh Nguyễn Tiến H1 vẫn đang sinh sống tại nước Ả rập thống nhất. Giữa ông bà và anh H1 vẫn thường xuyên liên lạc với nhau qua điện thoại và mạng xã hội để hỏi thăm về tình hình sức khỏe, đời sống hàng ngày của nhau.
Giữa con trai và con dâu ông bà là anh Nguyễn Tiến H1 và chị Hoàng Thị Thúy H đã xảy ra mâu thuẫn từ lâu do khoảng cách địa lý khiến cả hai phải xa nhau lâu ngày, thiếu sự thấu hiểu và cảm thông lẫn nhau dẫn tới không tìm được tiếng nói chung trong đời sống hôn nhân. Con trai và con dâu ông bà đã nhiều lần tâm sự với ông bà về mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân, dù đã được hai bên gia đình hết lời khuyên can nhưng mâu thuẫn giữa cả hai ngày càng nghiêm trọng, không thể hòa giải.
Ông bà đã thông báo toàn bộ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh H1. Ông bà cũng đã hỏi anh H1 về địa chỉ cụ thể của anh H1 ở nước ngoài nhưng anh H1 không cho ông bà biết nên ông bà không thể cung cấp được cho Tòa án.
Anh H1 chỉ nhờ ông bà thông báo lại với Tòa án quan điểm về việc giải quyết vụ án là: Anh H1 đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị H tại Thông báo về việc thụ lý vụ án và đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt anh H1 trong toàn bộ quá trình tiến hành tố tụng vụ án vì anh H1 đang làm việc ổn định tại nước ngoài, không thể về nước để giải quyết việc ly hôn.
Ông bà đồng ý nhận thay, cam kết thông báo ngay nội dung văn bản và giao lại tận tay các văn bản tố tụng khi có điều kiện giao cho anh H1 trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, việc thu thập chứng cứ của Tòa án đã tiến hành theo đúng các quy định tại Bộ Luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Thúy H. Cho chị Hoàng Thị Thúy H được ly hôn anh Nguyễn Tiến H1.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Gia H2, sinh ngày 05/9/2014 cho chị Hoàng Thị Thúy H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu H2 thành niên và lao động tự túc được. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng: Anh Nguyễn Tiến H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công sức đóng góp, nợ chung: Không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: Chị H phải chịu theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Hoàng Thị Thúy H nộp đơn khởi kiện ly hôn anh Nguyễn Tiến H1 tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ. Trong đơn khởi kiện, chị H trình bày hiện anh H1 đang sống và làm việc ở nước ngoài. Tại văn bản số 36/QLXNC – Đ1 ngày 09/01/2025 của Phòng Q – Công an tỉnh P xác nhận anh Nguyễn Tiến H1 đã xuất cảnh lần gần nhất ngày 08/9/2023 và chưa có thông tin nhập cảnh trở lại Việt Nam. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Quan hệ tranh chấp được xác định trong vụ án là quan hệ “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Hoàng Thị Thúy H và anh Nguyễn Tiến H1 là hôn nhân hợp pháp. Do khoảng cách địa lý trong quá trình chung sống khiến vợ chồng thiếu sự quan tâm và chia sẻ hàng ngày với nhau dẫn đến nhiều mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung trong đời sống hôn nhân. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh H1.
Anh H1 hiện đang ở nước ngoài, chị H không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh H1 ở nước ngoài cho Tòa án và có đơn đề nghị Tòa án tiến hành xác minh, thu thập địa chỉ của anh H1 tại nước ngoài. Qua xác minh, ông Nguyễn Công Đ và bà Hoàng Thị P là cha mẹ đẻ của anh H1 xác nhận giữa anh H1 và chị H có mâu thuẫn nghiêm trọng, hiện anh H1 đang ở nước Ả rập thống nhất và vẫn thường xuyên liên lạc với ông bà nhưng không nói rõ địa chỉ cụ thể nên ông bà không cung cấp được cho Tòa án. Căn cứ công văn số 253/TANDTC – PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Hội đồng xét xử thấy rằng giữa chị H và anh H1 mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị H xin ly hôn anh H1 là có căn cứ, được chấp nhận.
[3] Về con chung: Hội đồng xét xử thấy rằng chị H và anh H1 có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Gia H2, sinh ngày 05/9/2014.
Chị H có đề nghị giao cháu H2 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn cho đến khi cháu H2 thành niên. Xét thấy anh H1 đang ở nước ngoài còn cháu H2 đang sống ổn định tại Việt Nam nên cần chấp nhận yêu cầu của chị H, tuyên giao cháu H2 cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn cho đến khi cháu H2 thành niên và lao động tự túc được.
[4] Về cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy đây là sự tự nguyện của đương sự cần được ghi nhận.
[5] Về tài sản chung, công sức, nợ chung: Do chị H không yêu cầu và anh H1 không có trình bày tại Tòa án nên Tòa án không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
[6] Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, Điều 469, khoản 4 Điều 147, Điều 179, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Thúy H. Xử cho chị Hoàng Thị Thúy H được ly hôn anh Nguyễn Tiến H1.
-
Về con chung:
Giao cháu Nguyễn Hoàng Gia H2, sinh ngày 05/9/2014 cho chị Hoàng Thị Thúy H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu H2 thành niên và lao động tự túc được.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Anh Nguyễn Tiến H1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
-
Về án phí: Chị Hoàng Thị Thúy H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Xác nhận chị Hoàng Thị Thúy H đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa số 0000499 ngày 21/01/2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trong hạn 30 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án, cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Đình Chi |
Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 34/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HNGĐ giữa chị H và anh H
