Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NAM

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HNGĐ- ST

Ngày 08-4-2025

“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Thụ

2. Ông Đặng Minh Khôi

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Trưng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 33/2025/TLST-HNGĐ ngày 22/01/2025 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/3/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị L, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn M, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn M, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ, nguyên đơn chị Trịnh Thị L1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Ngọc T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện L ngày 12/3/2011, sau khi kết hôn anh chị về chung sống với nhau ngay tại nhà anh T. Thời gian đầu anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc và đã có 02 con chung.

Mâu thuẫn phát sinh từ khoảng năm 2023 đến nay, nguyên nhân do anh T chơi bời, không tu chí làm ăn, anh T thường xuyên chơi bời cờ bạc, vay nợ tín dụng đen làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình, có lần chị phải trả nợ cho anh T. Chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh T không thay đổi và vẫn tiếp tục chơi bời cờ bạc. Gia đình hai bên có biết việc vợ chồng mâu thuẫn và có khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng không có kết quả.

Nay chị xác định tình cảm vợ chồng đã hết, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc T.

- Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 02 con chung là Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 02/01/2012 và Nguyễn Anh K, sinh ngày 30/11/2017. Hiện nay hai con chung đang ở với anh T, nay ly hôn chị đồng ý để anh T được tiếp tục được nuôi hai con chung.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, ruộng đất nông nghiệp: Anh chị không có tài sản gì chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra chị Trịnh Thị L không còn yêu cầu nào khác.

* Theo biên bản lấy lời khai, bị đơn là anh Nguyễn Ngọc T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị L kết hôn năm 2011 trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện L. Sau khi kết hôn anh chị về chung sống với nhau ngay.

Anh chị vẫn chung sống với nhau, thi thoảng chỉ có một vài mâu thuẫn nhỏ chứ không có gì lớn, vợ chồng ít nói chuyện, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên có tranh cãi. Từ Tết năm 2025 đến nay chị L về nhà đẻ ở, từ đó vợ chồng không liên lạc với nhau nữa, anh có khuyên chị L quay về chung sống nhưng chị L không đồng ý. Gia đình hai bên có khuyên bảo nhưng không có kết quả. Nay chị L đề nghị ly hôn thì anh đồng ý.

- Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 02 con chung là Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 02/01/2012 và Nguyễn Anh K, sinh ngày 30/11/2017. Hiện nay hai con chung đang ở với anh, nay ly hôn anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được tiếp tục được nuôi con chung.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, ruộng đất nông nghiệp: Anh chị không có vướng mắc gì nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, anh Nguyễn Ngọc T không còn ý kiến nào khác.

Ngày 17 tháng 3 năm 2025, Tòa án tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Nguyễn Ngọc T có đơn xin vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Tại phiên tòa ngày 20 tháng 12 năm 2024, chị Trịnh Thị L và anh Nguyễn Ngọc T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị HĐXX xét xử vụ án theo thủ tục chung.

+ Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 144, khoản 4 Điều 147, Điều 150, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử:

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trịnh Thị L được ly hôn anh Nguyễn Ngọc T.

Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Ngọc T trực tiếp nuôi hai con chung là Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 02/01/2012 và Nguyễn Anh K, sinh ngày 30/11/2017.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, còn đề nghị xử lý về phần án phí của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn là chị Trịnh Thị L và bị đơn là anh Nguyễn Ngọc T đã có đơn xin xét xử vắng mặt; căn cứ vào Điều 227, Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị L và anh T theo quy định.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Trịnh Thị L và anh Nguyễn Ngọc T có địa chỉ tại xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

[3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Trịnh Thị L có đơn xin ly hôn và đề nghị giải quyết về con chung với anh Nguyễn Ngọc T nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 xác định quan hệ pháp luật là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".

[4] Về nội dung:

[4.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị L và anh Nguyễn Ngọc T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang vào ngày 12/3/2011. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh T là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau ngay. Quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị L là do anh T chơi bời, không tu chí làm ăn, anh T thường xuyên chơi bời cờ bạc, vay nợ tín dụng đen làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình, có lần chị phải trả nợ cho anh T. Chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh T không thay đổi và vẫn tiếp tục chơi bời cờ bạc.

Theo anh T thì anh chị chỉ có một vài mâu thuẫn nhỏ chứ không có gì lớn, vợ chồng ít nói chuyện, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên có tranh cãi. Từ Tết năm 2025 đến nay chị L về nhà đẻ ở, từ đó vợ chồng không liên lạc với nhau nữa, anh có khuyên chị L quay về chung sống nhưng chị L không đồng ý.

Điều này chứng tỏ hôn nhân giữa chị L và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần xử cho chị L được ly hôn với anh T là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[4.2] Về con chung: Chị Trịnh Thị L và anh Nguyễn Ngọc T có 02 con chung là Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 02/01/2012 và Nguyễn Anh K, sinh ngày 30/11/2017. Hiện nay hai con chung đang ở với anh T. Nay ly hôn, anh T đề nghị được tiếp tục nuôi hai con chung, chị L đồng ý để anh T được tiếp tục nuôi hai con chung, hai con chung có nguyện vọng được ở với anh T.

Xét thấy: Đề nghị của chị L và anh T là tự nguyện, không bị ai ép buộc, phù hợp pháp luật, phù hợp đạo đức xã hội, phù hợp với nguyện vọng của con chung. Do vậy, cần giao hai con chung là Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 02/01/2012 và Nguyễn Anh K, sinh ngày 30/11/2017 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 2 Điều 81 luật hôn nhân và gia đình; sau khi vợ chồng ly hôn chị L được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị thực hiện quyền này là phù hợp với các điều 58, 82 luật hôn nhân gia đình.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trịnh Thị L và anh Nguyễn Ngọc T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4.3] Về tài sản chung, công nợ và ruộng đất nông nghiệp: Chị L không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Chị Trịnh Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình; Các Điều 28, 35, 39, 144, khoản 4 Điều 147, Điều 150, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trịnh Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc T.

2. Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Ngọc T trực tiếp nuôi hai con chung là Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 02/01/2012 và Nguyễn Anh K, sinh ngày 30/11/2017.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét giải quyết.

Chị L có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở chị thực hiện quyền này. Tuy nhiên, người không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người trực tiếp nuôi dưỡng.

Vì lợi ích của con chung, Tòa án có thể thụ lý giải quyết vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc vụ án yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nếu sau này các đương sự có đơn yêu cầu và theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Chị Trịnh Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0004570 ngày 22/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam. Xác nhận chị Trịnh Thị L đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Lục Nam;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Nam;
  • - UBND xã Yên Sơn, huyện Lục Nam;
  • - Lưu HS, Vp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Nguyễn Ngọc Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HNGĐ- ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 34/2025/HNGĐ- ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Trịnh Thị L xin ly hôn anh Nguyễn Ngọc T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger