|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 07 - 3 - 2025
V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Khắc Hoàng
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể và ông Bùi Văn Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hoa - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 230/2024/TLST - HNGĐ, ngày 29 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXX-ST, ngày 17 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2025/TB-TA, ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn M, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh – vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Đình T, sinh 1993, Địa chỉ cuối cùng trước khi xuất cảnh: Thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (hiện lao động tại Mỹ) – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai có tại hồ sơ vụ án, chị Phạm Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Đình T tự do yêu đương tìm hiểu, kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 02/3/2019, sau khi kết hôn vợ chồng sống tại thôn F, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh và sống hạnh phúc, hòa thuận được một năm. Đến năm 2020 anh T đi xuất khẩu lao động tại Mỹ cho đến nay chưa về nước lần nào. Vì khoảng cách địa lý nên thời gian đầu vợ chồng còn thường xuyên liên lạc dần dần không còn quan tâm liên lạc với nhau nữa. Tình cảm vợ chồng nhạt dần, đến nay chúng tôi hoàn toàn ly thân không còn liên lạc hay liên quan gì đến nhau. Chị H đang còn trẻ và muốn ổn định cuộc sống, không muốn ràng buộc nhau nữa nên chị H có nguyện vọng yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Đình T.
Về con chung: Không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Đình T, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã gửi thông báo thụ lý và được người thân của anh T nhận thay. Đồng thời, Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng và đăng thông tin trên phương tiện thông tin theo quy định để anh Nguyễn Đình T biết việc chị Phạm Thị H có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng đến nay anh T vẫn không có văn bản trình bày quan điểm. Tuy nhiên, theo ông nguyễn Đình S là bố đẻ của anh T trình bày thì anh T đã biết việc chị Phạm Thị H có yêu cầu ly hôn đối với anh và anh đồng ý.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 51, 56, 57, 123 Luật hôn nhân gia đình 2014; Khoản 1 Điều 28; 37; 464 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 25, điểm a, mục 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu miễn giảm thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí, giải quyết:
- Về tình cảm: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Nguyễn Đình T.
- Về án phí: chị Phạm Thị H nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án chị Phạm Thị H trình bày hiện nay anh Nguyễn Đình T đang lao động tại Mỹ, không có địa chỉ cụ thể. Vì vậy, Tòa án đã đề nghị Cục Q cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của anh Nguyễn Đình T và tại Công văn số 1291/QLXNC - Đ1, ngày 12/12/2024 của Phòng QLXNC Công an tỉnh H cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của anh Nguyễn Đình T, sinh ngày 21/4/1993 đã xuất cảnh ngày 26/02/2024 qua sân bay Quốc tế N và hiện chưa có thông tin nhập cảnh trên hệ thống. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự. Ngoài ra, để có căn cứ giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh thông tin về anh Nguyễn Đình T thông qua người thân của anh và thực hiện niêm yết các văn bản tố tụng và đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định.
Tại phiên tòa, anh Nguyễn Đình T vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao để giải quyết vắng mặt anh T theo quy định pháp luật.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Đình T đăng ký kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn. Năm 2020, anh T đi lao động tại Mỹ đến nay chưa về nước, giữa chị H và anh T ngày càng có sự khác biệt về suy nghĩ và lối sống nên cả hai không còn quan tâm đến nhau, vợ chồng không còn có tiếng nói chung. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên chị Phạm Thị H nộp đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn anh Nguyễn Đình T. Tại bản trình bày ý kiến của ông Nguyễn Đình S là bố đẻ của anh T trình bày anh T có liên lạc cho gia đình anh xác nhận đã biết việc chị H có yêu cầu ly hôn vì vợ chồng có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên anh đồng ý ly hôn với chị H.
Xét thấy, thực tế hôn nhân giữa chị Phạm Thị H với anh Nguyễn Đình T tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, việc duy trì cuộc sống chung vợ chồng là không có ý nghĩa, cả hai người đã cắt đứt liên lạc, sống ly thân với nhau. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H xử cho chị H được ly hôn với anh Nguyễn Đình T.
[2.2]. Về quan hệ con chung: Không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[2.4]. Về án phí: Nguyên đơn chị Phạm Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
[2.5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị H. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Nguyễn Đình T.
- Về án phí: Buộc chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000194 ngày 29/11/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Khắc Hoàng |
Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 07/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 34/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình Phạm Thị H - Nguyễn Đình T
