Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀNG MAI

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 06/6/2025

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Hà
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sơn Hóa
  • Bà Bùi Thị Bích Vân
  • Thư ký phiên toà:
  • Bà Đỗ Minh Anh – Thư ký Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, TP Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:

  • Bà Nguyễn Thị Tư - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 127/2025/TLST – HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh H, sinh năm 1975;

HKTT và nơi ở hiện tại: Số C B, phường B, quận H, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa;

Bị đơn: Ông Tô Chí D, sinh năm 1964

HKTT: Số C B, phường B, quận H, thành phố Hà Nội. Nơi ở hiện tại: Số E ngõ A T, phường M, quận H, thành phố Hà Nội; Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Thanh H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân:

Bà và ông Tô Chí D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường B, quận H, Thành phố Hà Nội; Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng nhau đến năm 2016 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống và lối sống, không thể tìm được tiếng nói chung, mặc dù hai vợ chồng nhiều lần cố gắng hàn gắn tình cảm tuy nhiên mâu thuẫn càng ngày càng trầm trọng, hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, từ khoảng năm 2020 đến nay bà và ông D đã không còn chung sống cùng nhau, ông D chuyển về sinh sống tại số E, ngõ A T, còn bà sinh sống tại số C B nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông D.

- Về con chung:

Vợ chồng bà có 02 con chung là cháu Tô Trần Chí Đ, sinh năm 2000 và cháu Tô Lan P sinh năm 2006, do các cháu đã đủ 18 tuổi, đã trưởng thành, không bị nhược điểm về thể chất tinh thần nên bà không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung:

Bà không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về các khoản nợ chung:

Bác xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về lệ phí:

Bà tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Ông D vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, tại biên bản ghi lời khai ngày 24/4/2025 bị đơn là ông Tô Chí D trình bày:

Ông và bà Trần Thị Thanh H tự nguyện tìm hiểu, kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường B

Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến khoảng năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, hiện hai vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay bà H đề nghị ly hôn ông không đồng ý, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung:

Quá trình kết hôn ông bà có hai con chung là Tô Trần Chí Đ, sinh năm 2000 và cháu Tô Lan P, sinh năm 2006.

Các con đã trưởng thành nên ông không đề nghị giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung:

ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay:

Đại diện VKS ND quận H phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng:

Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án. Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của các Điều 39, 48, 198, 203, 205, 208, 209, 210, 220 và các điều tại chương 14 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của các Điều 70,71 Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn vắng mặt trong quá trình tố tụng nên chưa thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ quy định tại Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Trần Thị Thanh H đối với bị đơn là ông Tô Chí D. Về con chung và tài sản chung, nợ chung do các đương sự không có yêu cầu nên đề nghị HĐXX không xem xét.

- Bà Trần Thị Thanh H

giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và lời khai, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà, cho bà được ly hôn với ông Tô Chí D. Về con chung: hai con đã thành niên nên bà không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết; Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng bà không có và không yêu cầu tòa án xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bị đơn là ông Tô Chí D. Quá trình giải quyết vụ án, xác định ông D hiện có địa chỉ cư trú tại Số E, ngõ A T, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội do đó căn cứ quy định tại Khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điêu 35; điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, TP Hà Nội.

Ông Tô Chí D là bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt do đó HĐXX căn cứ Khoản 1, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Tô Chí D.

[2]. Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Thanh H với ông Tô Chí D: bà H và ông đều thừa nhận ông bà tự kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường B, quận H, Thành phố Hà Nội, xác định đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Nay bà Trần Thị Thanh H xin ly hôn với ông Tô Chí D vì lý do hai vợ chồng bất đồng quan điểm, đã tìm nhiều biện pháp để khắc phục nhưng không có hiệu quả, tình cảm vợ chồng không còn, hiện hai vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi.

Ông D trình bày từ khoảng năm 2019 hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, hiện vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Đối với yêu cầu xin ly hôn của bà H ông không đồng ý và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của bà H, ông D tại nơi cư trú của bà H, ông D thể hiện:

  • - Tổ dân phố tại nơi cư trú của bà H tại số C B cung cấp: Ông D, bà H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, quá trình chung sống tổ dân phố chưa phải hòa giải cho hai ông bà tại địa phương, hiện nay ông D không còn sống tại địa chỉ số C B, phường B, quận H, thành phố Hà Nội.
  • - Tổ dân phố tại nơi cư trú của ông D tại số E ngõ A T cung cấp: Bà H không sống cùng ông D tại số E, ngõ A T, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội.

Như vậy, lời khai bà H, ông D và tài liệu do Tòa án xác minh đều thể hiện ông D, bà H có phát sinh mâu thuẫn trong quá trình chung sống và hiện đã sống ly thân, không còn chung sống cùng nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mời ông D lên làm việc và thông báo về việc hòa giải tuy nhiên ông D không đến tòa án làm việc, không tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nên việc hòa giải không thành.

Mục đích của hôn nhân là vợ chồng cùng chung sống, yêu thương, chia sẻ với nhau nhưng hiện nay ông D, bà H đã sống ly thân, ông D không đồng ý ly hôn nhưng ông D không đến Tòa án làm việc, không tham gia phiên tòa cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ gì khác theo yêu cầu của Tòa án nên HĐXX xác định quan hệ hôn nhân của ông D, bà H không thể hàn gắn, hai vợ chồng hiện sinh sống mỗi người một nơi nên tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được do đó yêu cầu ly hôn của bà H là có căn cứ và phù hợp với quy định tại 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần được chấp nhận.

Về con chung:

Ông D, bà H trình bày, ông bà có 02 con chung là anh Tô Trần Chí Đ, sinh ngày 29/7/2020 và chị Tô Lan P, sinh ngày 06/3/2006. Các con hiện đã thành niên (đủ 18 tuổi trở lên) nên hai ông bà không đề nghị Tòa án giải quyết do đó HĐXX không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung:

Bà H xác định không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, ông D trình bày đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định nếu có yêu cầu, Tòa án đã tống đạt quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ cho ông D tuy nhiên hết thời hạn theo Quyết định ông D không có đơn đề nghị yêu cầu giải quyết tài sản chung, nợ chung và không cung cấp tài liệu chứng cứ gì khác nên HĐXX không xem xét. Trường hợp có yêu cầu và có đủ tài liệu chứng cứ, ông D có quyền khởi kiện trong vụ án hôn nhân gia đình khác.

[3]. Về án phí và quyền kháng cáo:

Căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bà Trần Thị Thanh H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Bà Trần Thị Thanh H và ông Tô Chí D có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử;

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 4, Điều 147; khoản 1, Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 51; khoản 1, Điều 53; Điều 56; Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh H đối với ông Tô Chí D:

  1. Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị Thanh H được ly hôn với ông Tô Chí D;
  2. Về con chung: Bà Trần Thị Thanh H và ông Tô Chí D có hai con chung là anh Tô Trần Chí Đ, sinh ngày 29/7/2020 và chị Tô Lan P, sinh ngày 06/3/2006. Các con hiện đã thành niên (đủ 18 tuổi trở lên), bà H và ông D không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Do bà Trần Thị Thanh H và ông Tô Chí D không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí: Buộc bà Trần Thị Thanh H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí bà H đã nộp theo biên lai số 0024341 ngày 10/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.
  5. Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị Thanh H có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Tô Chí D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKS ND TP Hà Nội;
  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận Hoàng Mai;
  • - Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai;
  • - Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng
  • - UBND phường Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng (Số 106 ngày 25/11/1999)
  • - Lưu hồ sơ vụ việc..

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 34/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger