Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN NAM

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 06-6-2025.

(V/v: Ly hôn, nuôi con chung).

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM - TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Lê Ngọc Chính
  • - Ông Hoàng Văn Tâm

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thanh Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận

tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Nga – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 18/2025/TLST-HNGĐ ngày 12/02/2025 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08/5/2025 giữa:

* Nguyên đơn: Bà Võ Thị Mai P – sinh năm 1991.

Nơi cư trú: Khu phố L, thị trấn T, huyện H, Bình Thuận.

* Bị đơn: Ông Trương Kim Q – sinh năm 1989.

Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện H, Bình Thuận.

Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Võ Thị Mai P trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Q tự nguyện tìm hiểu, chung sống vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận vào ngày 24/02/2017.

Trong quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên vợ chồng thường cãi vã nhau, ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng và con cái. Năm 2024 vì không thể tiếp tục sống chung nên ông bà sống ly thân nhau, mạnh ai nấy sống không còn quan tâm chăm sóc gì tới nhau từ đó cho tới nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Q.

  • - Về con chung: bà khai có 01 con chung tên Trương Minh H (nam), sinh ngày 19/01/2017. Sau khi ly hôn, bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Bà không yêu cầu ông Q cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
  • - Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, bà P vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 05/6/2025; bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã trình bày trước đây.

* Tại phiên tòa bị đơn ông Trương Kim Q vắng mặt; Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam cũng đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Q: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Q vẫn vắng mặt.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát có ý kiến như sau:

  • - Về tố tụng: từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán, Thư ký chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ tranh chấp và tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng. Thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn mở phiên tòa, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự quy định.

Tại phiên tòa hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa tiến hành các trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật.

Đối với người tham gia tố tụng: nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật.

  • - Về nội dung vụ án: Viện kiểm sát thấy rằng tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã thể hiện hôn nhân của bà Võ Thị Mai P và ông Trương Kim Q là hợp pháp, ông bà tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận vào năm 2017. Trong quá trình chung sống theo trình bày của bà P vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống dẫn tới không tin tưởng nhau nên thường xuyên xảy ra cãi vã làm cho cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, ông bà đã tự sống ly thân nhau từ năm 2024 cho tới nay, không ai quan tâm đến ai; Tại phiên tòa ông Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt chứng tỏ ông Q không có thiện chí hòa giải như vậy chứng tỏ tình cảm vợ chồng của ông bà không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó: căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà P được ly hôn ông Q.
  • Về con chung: bà P khai có 01 con chung tên Trương Minh H (nam), sinh ngày 19/01/2017. Trong đơn khởi kiện và bản tự khai bà P có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung vì hiện nay cháu H đang do bà P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hơn nữa tại biên bản lấy lời khai con chung thì cháu H cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó để đảm bảo cuộc sống ổn định và thể chất cũng như tinh thần cũng như điều kiện về mọi mặt cho cháu H đề nghị Hội đồng xét xử xử chấp nhận yêu cầu của bà P giao con chung Trương Minh H cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng.
  • Về tiền cấp dưỡng nuôi con: do bà P không yêu cầu ông Q cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên không xét.
  • Về tài sản chung: Do bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông Q không có đơn yêu cầu về phần tài sản chung nên Viện kiểm sát không có ý kiến.
  • Về nợ chung: Ông, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Viện kiểm sát không có ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát huyện H, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà Võ Thị Mai P có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, nuôi con chung. Bị đơn là ông Trương Kim Q hiện cư trú tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn bà Võ Thị Mai P có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Trương Kim Q đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử theo quy định.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của bà Võ Thị Mai P và ông Trương Kim Q là hợp pháp, ông bà tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận vào ngày 24 tháng 02 năm 2017.

Quá trình giải quyết vụ án bà P thừa nhận trong cuộc sống hôn nhân có xảy ra mâu thuẫn do cách sống không hợp nhau, vợ chồng không còn tin tưởng, tôn trọng nhau dẫn đến vợ chồng không thấu hiểu, chia sẻ cho nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cũng đã hòa giải nhưng bà P trình bày vợ chồng không thể tiếp tục chung sống được với nhau. Ông Q không có ý kiến phản hồi. Bà P trình bày từ năm 2024 cho đến nay vợ chồng sống ly thân nhau, không ai quan tâm đến ai. Như vậy chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: bà Võ Thị Mai P được ly hôn với ông Trương Kim Q.

[4] Về con chung: Bà P khai ông, bà có 01 con chung tên Trương Minh H (nam), sinh ngày 19/01/2017. Sau khi ly hôn, P có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, hiện nay cháu H đang do bà P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hơn nữa tại biên bản lấy lời khai con chung thì cháu H cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó để đảm bảo cuộc sống ổn định và thể chất cũng như tinh thần cũng như điều kiện về mọi mặt cho cháu H nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà P giao con chung Trương Minh H cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Ông Q, bà P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn.

  • - Về mức cấp dưỡng và phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: do bà P không yêu cầu ông Q cấp dưỡng tiền nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về tài sản chung: Bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, ông Q không có đơn yêu cầu giải quyết về phần tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về phần nợ chung: Bà P, ông Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí: Bà P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ: Điều 5, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

    Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

    Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Mai P được ly hôn ông Trương Kim Q.
    • - Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Trương Minh H (nam), sinh ngày 19/01/2017 cho bà P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

    Ông Q, bà P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn.

    Về mức cấp dưỡng và phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà P không yêu cầu giải quyết ông Q cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

    • - Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
    • - Về án phí: Bà Võ Thị Mai P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ngày 10/02/2025, bà P đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam thu theo biên lai số 0005501, nay chuyển sang án phí và sung công quỹ nhà nước. Bà P đã nộp đủ tiền án phí.
    • - Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát huyện Hàm Thuận Nam, BT;
  • - Toà án tỉnh Bình Thuận;
  • - UBND xã Tân Thuận, Hàm Thuận Nam, BT;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa

Lê Thị Thúy Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM - TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 34/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM - TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Thị Mai P xin ly hôn ông Trương Kim Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger