|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 04/4/2025
V/v: Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thu Trang.
Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hiệp
2. Ông Nguyễn Văn Duyên
Thư ký phiên toà: Bà Hạp Thị Thu Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết, Kiểm sát viên.
Trong ngày 04/4/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 161/2024/TLST – HNGĐ ngày 31/12/2024 về Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QÐST-HNGĐ ngày 24/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2025/QĐ-HPT ngày 18/3/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Vũ Thị M, sinh năm 1960. Có mặt.
Trú tại: Số nhà D, ngõ A, đường N, khu C, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
Bị đơn: Ông Vũ Đức T, sinh năm 1956. Vắng mặt.
Trú tại: Số nhà D, ngõ A, đường N, khu C, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Vũ Thị M trình bày:
Bà và ông Vũ Đức T kết hôn ngày 14/12/1986, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu sau đó cùng nhau đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng có về chung sống với nhau. Trong quá trình chung sống, vợ chồng bà M chung sống hạnh phúc đến năm 2003 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T chơi bời, cờ bạc, rượu chè, không quan tâm đến vợ con. Từ năm 2003, một mình bà M phải nuôi hai đứa con, ông T không giúp đỡ gì. Khoảng năm 2006, ông T nghỉ hữu, đi đâu và đi làm ăn ở đâu, bà M không biết, vợ chồng không quan tâm đến nhau, ông T không quan tâm đến con cái, không chung kinh tế, không còn quan hệ tình cảm, ông T cũng không thường xuyên sinh sống cùng gia đình, thỉnh thoảng mới về nhà.
Nay bà M cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án cho bà được ly hôn với ông T.
Vợ chồng có 02 con chung là: Vũ Anh T1, sinh năm 1987 và Vũ Thu H, sinh năm 1998. Các con chung đã trưởng thành nên bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Vũ Đức T không hợp tác, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc, không có lời khai.
Tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Vũ Thị M vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông Vũ Đức T.
Bị đơn là ông Vũ Đức T đã được triệu tập hợp lệ nhưng ông Vũ Đức T không hợp tác, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, vắng mặt không có lý do tại các phiên họp, phiên tòa nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh phát biểu ý kiến đã đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn là đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Vũ Thị M.
Về con chung: Không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Không xem xét giải quyết.
Về án phí: Miễn án phí cho bà Vũ Thị M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra, công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Vũ Thị M yêu cầu được ly hôn ông Vũ Đức T, do đó xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Bị đơn ông Vũ Đức T có địa chỉ thường trú tại thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
Bà Vũ Thị M và ông Vũ Đức T kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 14/12/1986 tại Ủy ban nhân dân phường T (nay là phường T), thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Đối với yêu cầu ly hôn của bà Vũ Thị M, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời trình bày của bà M, vợ chồng chung sống đến năm 2003 thì phát sinh mâu thuẫn do ông T chơi bời, rượu chè, cờ bạc, không quan tâm đến vợ con; đến năm 2006 ông T ông đi đâu làm gì bà M không biết, vợ chồng không còn tình cảm, không chung kinh tế, ông T không thường xuyên sinh sống cùng gia đình, thỉnh thoảng mới về nhà. Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà M, ông T đã đến mức lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Vũ Thị M.
Vợ chồng có 02 con chung là anh Vũ Anh T1, sinh năm 1987 và chị Vũ Thu H, sinh năm 1998. Các con chung đã trưởng thành, bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Bà M không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Do bà Vũ Thị M là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí, vì vậy miễn án phí đối với bà M theo quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 266; Điều 271; Điều 273 - Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ các điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị M
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị M được ly hôn với ông Vũ Đức T.
- Về con chung: Các con chung là Vũ Anh T1, sinh năm 1987 và Vũ Thu H, sinh năm 1998 đã trưởng thành nên HĐXX không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đối với bà Vũ Thị M.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án./.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Văn Duyên Nguyễn Văn Hiệp |
Vũ Thu Trang |
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Vũ Thu Trang |
Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 34/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
