Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 04 - 3 - 2025.

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Yến

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hà Thị Thủy

2. Bà Chung Kim Sang

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim H – Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 86/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 03 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXX-ST ngày 23 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim N, sinh ngày 10/9/1984 (có mặt)
  2. Địa chỉ: Số E, tổ F, ấp T, xã P, thành phố R, tỉnh Kiên Giang..

  3. Bị đơn: Ông Huỳnh Đ, sinh năm 1990 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Số F, ấp T, xã P, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Kim N trình bày:

Bà và ông Huỳnh Đ tự nguyện yêu thương và tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau vào năm 2009, đến năm 2012 thì đăng ký kết hôn trễ hạn, đã được UBND xã P, thành phố R, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 29/8/2012.

Quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh nhiều bất đồng do không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình, thường xuyên cự cãi nhau, vào năm 2020 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn trầm trọng nguyên nhân do ông Huỳnh Đ không chung thủy, có quan hệ ngoài hôn nhân với người phụ nữ khác, ông Đ bỏ về nhà cha mẹ ruột sống, bà và ông Đ sống ly thân từ đó cho đến nay.

Nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống cùng nhau nên bà N làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

  • Về hôn nhân: Bà N yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Điền .
  • Về con chung: Tại đơn khởi kiện bà N xác định vợ chồng có 01 (một) người con chung tên Huỳnh Thanh P- sinh ngày 07/4/2011, bà N yêu cầu giao con chung cho bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án bà N xác định lại không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.
  • Về tài sản chung: Bà N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ chung: Bà N xác định không có, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa, bà Nguyễn Kim N xác định giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông Huỳnh Đ và yêu cầu về việc nuôi con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con, ngoài ra không còn yêu cầu nào khác.

* Đối với bị đơn ông Huỳnh Đ: Tòa án đã tiến hành xác minh thông tin cư trú của ông Đ và niêm yết các văn bản tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến nay theo quy định pháp luật; tuy nhiên ông Đ không có mặt và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, ông Huỳnh Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do.

* Tại Biên bản ghi nhận ý kiến ngày 27/3/2024, cháu Huỳnh Thanh P- sinh ngày 07/4/2011 (là con chung giữa ông Huỳnh Đ và bà Nguyễn Kim N) xác định nguyện vọng muốn được sống cùng với bà N nếu cha mẹ cháu ly hôn.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá phát biểu quan điểm:

  • Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuy nhiên còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử. Diễn biến tại phiên tòa Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục theo luật định; về những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 91, 92, 95 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 9, 51, 56, 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn và yêu cầu về việc nuôi con chung của bà Nguyễn Kim N đối với ông Huỳnh Điền .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Nguyễn Kim N khởi kiện xin ly hôn với ông Huỳnh Đ; địa chỉ cư trú tại: Số F, ấp T, xã P, thành phố R, tỉnh Kiên Giang và yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung. Do đó, Tòa án xác định quan hệ pháp luật của vụ án là "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" và theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá.

[2] Về sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Ông Huỳnh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, bà Nguyễn Kim N đồng ý xét xử vắng mặt ông Đ theo quy định pháp luật; do đó Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định xét xử vắng mặt ông Đ.

[3] Xét quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Kim N và ông Huỳnh Đ, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà N và ông Đ kết hôn, chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, hai bên có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán vào năm 2009, đến năm 2012 thì tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, đã được UBND xã P, thành phố R, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 29/8/2012, nên theo quy định tại Điều 9, Điều 11 và Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đây là hôn nhân hợp pháp.

[4] Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Kim N, Hội đồng xét xử nhận định:

Quá trình chung sống giữa vợ chồng bà N và ông Đ phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn; nguyên nhân theo bà N xác định do bất đồng quan điểm sống, thường phát sinh cãi vả, vào năm 2020 thì bà phát hiện ông Đ không chung thủy, có người phụ nữ khác bên ngoài, từ đó mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng hơn, bà và ông Đ sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay, mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm và dành tình cảm cho nhau nữa. Tại phiên tòa, bà N xác định mâu thuẫn không thể hàn gắn, không còn tình cảm do đó bà vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông Đ.

Căn cứ Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự về nghĩa vụ chứng minh của đương sự, phía ông Huỳnh Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, tuy nhiên ông Đ không có mặt theo thông báo, giấy triệu tập của Tòa án và không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà N hoặc phản đối lời trình bày của bà N cũng như các chứng cứ do bà N cung cấp để làm cơ sở giải quyết vụ án, xem xét bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho ông.

Theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình thì quan hệ vợ chồng phải dựa trên cơ sở tự nguyện, tiến bộ; vợ chồng phải có nghĩa vụ quan tâm, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau để cùng nhau xây dựng mái ấm gia đình bền vững, hạnh phúc. Tuy nhiên, qua xem xét, đánh giá Hội đồng xét xử nhận định quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, ông Đ cũng không có mặt tại Tòa án và không trình bày ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà N, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng; từ đó xét thấy giữa bà N và ông Đ đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà N là có căn cứ; sau khi nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N, xử cho bà được ly hôn với ông Huỳnh Điền .

[5] Xét yêu cầu của bà Nguyễn Kim N về việc nuôi con chung, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà N và ông Đ chung sống có 01 (một) người con chung tên Huỳnh Thanh P- sinh ngày 07/4/2011. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà N xác định con hiện đang sống cùng bà, do bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, được đảm bảo đầy đủ quyền, lợi ích hợp pháp để sinh sống, học tập và phát triển; đồng thời bà cũng không cản trở việc ông Đ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; do đó bà N xác định giữ nguyên yêu cầu về việc giao con chung cho bà tiếp tục nuôi dưỡng, bà xác định bản thân đủ khả năng kinh tế để nuôi con nên không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con. Phía ông Huỳnh Đ, trong suốt quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu của bà N về việc nuôi con chung.

Xét yêu cầu của bà N về việc nuôi con chung là phù hợp quy định pháp luật và phù hợp nguyện vọng của cháu P; do đó để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của bà N, giao cháu Huỳnh Thanh P cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng; ông Đ vẫn được đảm bảo quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định pháp luật.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà N xác định không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung: Bà N xác định bà và ông Đ không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về nợ chung: Bà N xác định bà và ông Đ không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Do ông Huỳnh Đ không có lời khai tại Tòa án và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nếu sau này ông Đ có yêu cầu về việc nuôi con chung, về chia tài sản chung và nợ chung của vợ chồng thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện độc lập.

[9] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Kim N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, 147, 227, 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Kim N và ông Huỳnh Điền
  2. Về quan hệ con chung: Giao con chung giữa bà Nguyễn Kim N và ông Huỳnh Đ là cháu Huỳnh Thanh P- sinh ngày 07/4/2011 cho bà Nguyễn Kim N trực tiếp nuôi dưỡng.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét, giải quyết.

    Các bên có các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định pháp luật.

  4. Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Kim N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà N đã nộp, theo biên lai thu tiền số 0006153 ngày 28/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 04/3/2025). Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND Tp. Rạch Giá;
  • - Chi cục THA dân sự Tp. Rạch Giá;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Kim Yến

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Chung Kim Sang

Hà Thị Thủy

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Kim Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 34/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Kim N xin ly hôn, tranh chấp nuôi con chung với Huỳnh Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger