|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc
|
|
Bản án số: 34/2025/DSPT Ngày: 12 - 02 - 2025 V/v “tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề” |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hải;
Bà Nguyễn Thị Trang Thư.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Ông Lâm Thành Them - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong các ngày 11 và 12 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 626/2024/TLPT-DS ngày 30 tháng 12 năm 2024 về “tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 195/2024/DS – ST ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ có bị đơn ông Đào R kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 23/2025/QĐPT-DS ngày 16 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1 Ông Trần Văn T, sinh năm 1955; địa chỉ: Số A, ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
1.2 Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1965; địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nguyên đơn: Bà Huỳnh Thu N, sinh năm 1965 là Luật sư thuộc Công ty L; địa chỉ: 2 đường số D, KDC C H, khu vực 2, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
2. Bị đơn: Ông Đào R, sinh năm 1951; địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Trung T1, sinh năm 1988; địa chỉ: Số A, ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
4. Người kháng cáo: Ông Đào R là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Văn T trình bày và yêu cầu:
Vào khoảng năm 1983, 1984 ông chuyển nhượng đất của ông Nguyễn Văn T2 (đã chết). Sau đó ông được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất tại thửa 358, tờ bản đồ số 7, diện tích 2270,0m², tọa lạc hiện nay tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, TP., theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 865749, do Ủy ban nhân dân huyện T cấp 19/7/2013 cho ông Trần Văn T đứng tên. Giáp ranh với thửa 358 là thửa 357 của ông Đào Rùm . Gia đình ông và ông Đào R đã thống nhất cắm 05 trụ đá làm ranh, có sự chứng kiến của ông Đào C làm chứng. Còn 01 trụ đá đã xác định nhưng do trời tối nên ngưng không cắm. Hiện nay có cán bộ xuống hoàn thành việc cắm trụ nhưng ông Đào R không đồng ý dẫn đến hai bên tranh chấp ranh giữa thửa 358 và 357. Nay ông yêu cầu yêu cầu ông Đào R trả phần đất lấn chiếm thuộc thửa 355, 358, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ, diện tích 317m² tại vị trí A và phần đất diện tích 129,1m² tại vị trí B của Bản trích đo địa chính số 564/VPĐKĐĐ ngày 16/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn M trình bày và yêu cầu:
Ông có thửa đất số 349, diện tích 2900m2 (300m2 đất T, 2600 đất LNK), tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 768980, số vào sổ cấp GCN: 00454, do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 29/9/2004 cho hộ bà Phan Thị N1, ngày 13/7/2017 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai xác nhận tặng cho ông Nguyễn Văn M theo hồ sơ só 00454.TA.001. Nguồn gốc thửa đất là của cha mẹ ông. Giáp ranh đất với ông là phần đất thuộc thửa 357, diện tích 2460m2 (300 đất ONT, 2160 đất CLN) của ông Đào Rùm . Khi địa chính xuống đo đạc, cắm ranh, xuống trụ đá thì ông Đào R đã đồng ý vị trí cắm ranh. Nhưng khi ông thực hiện căng dây cắm ranh thì ông Đào R không cho và nhổ cọc của ông. Hiện tại ông Đào R đang cuốn nền, chuẩn bị xây nhà và đang lấn đất của ông. Nay ông yêu cầu ông Đào R trả phần đất lấn chiếm thuộc thửa 349, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ, diện tích 18,3m² tại vị trí C và phần đất diện tích 93,5m² tại vị trí D của Bản trích đo địa chính số 564/VPĐKĐĐ ngày 16/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
- Bị đơn ông Đào R trình bày:
Nguyên năm 1976, ông chuyển công tác về xã Đ, ông được giao phần đất cặp rạch Vàm Nhon có chiều ngang giáp rạch là 25m, chiều ngang giáp mặt hậu liền đất ruộng là 27m, chiều dài khoảng 124m, tổng diện tích là 27,5 công tầm 3m. Sau đó thực hiện chính sách chia sẻ số đất 10 công cho ông Nhan Đ, ông Nhan Đ bán lại cho ông Trần Văn T. Đây là phần đất thuộc thửa 357, giáp ranh với phần đất thuộc thửa 358 của ông Trần Văn T. Đến ngày 15/10/1991 ông được Ủy ban nhân dân huyện Ô (cũ) cấp phần đất thuộc thửa 357, diện tích 2460m2, tờ bản đồ só 07 tọa lạc hiện nay tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 817514, số vào sổ cấp GCN: 001411.QSDĐ do cấp cho ông đứng tên quyền sử dụng đất. Trước khi làm lộ bê tông ông và ông Trần Văn T thống nhất đặt óng thoát nước đúng vị trí cũ, bọng nhựa thay cho bọng dừa và ông có đặt bọng nhựa nhằm khi cần nước bơm từ sông lên thay vì trước đây sử dụng đường nước dẫn thoát. Sau khi lộ bê tông hoàn thành ông Trần Văn T chở đất lấp đầu mương dẫn nước nên hiện trạng mương thay đổi. Đầu mương dẫn nước rộng 2,5m bị lấp, còn cây tràm mé mương ranh, cây dầu, gốc dừa, gốc dầu cặp mương và đường dẫn nước khoảng rộng 2,50m, khoảng giữa 1,50m, phần đất vườn giáp đất ruộng có mương rộng 2,0m, đoạn mương bụi tre gai giáp đất ông Nguyễn Văn M là rộng 2,0m.Ông xác định không có lấn ranh đối với thửa 358 do ông T sử dụng. Phần đất này hiện tại do gia đình ông trực tiếp sử dụng, không có ai thuê, cố đất, sang bán hay thế chấp đất. Khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cơ quan chức năng không tiến hành đo đạc. Từ trước đến nay ông cũng chưa lần nào khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông. Ông yêu cầu được sử dụng đường nước do ông đào trước đây để lấy nước lên ruộng và làm rẫy.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 195/2024/DS - ST ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ đã tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn T.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M.
- Công nhận cho ông Trần Văn T phần đất diện tích 317m² tại vị trí A và phần đất diện tích 129,1m² tại vị trí B của Bản trích đo địa chính số 564/VPĐKĐĐ ngày 16/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
- Công nhận cho ông Nguyễn Văn M phần đất diện tích 18,3m² tại vị trí C và phần đất diện tích 93,5m² tại vị trí D của Bản trích đo địa chính số 564/VPĐKĐĐ ngày 16/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
- Buộc ông Đào R giao trả cho ông Nguyễn Văn M phần đất diện tích 18,3m² tại vị trí C của Bản trích đo địa chính số 564/VPĐKĐĐ ngày 16/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
Các phần đất nêu trên tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng khác; án phí dân sự sơ thẩm; thời hiệu kháng cáo và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 15/10/2024, ông Đào R có đơn kháng cáo. Theo đơn kháng cáo ông R yêu cầu Hội đồng xét xử hủy bản án dân sự sơ thẩm do hai bản trích đo địa chính có sai lệch diện tích nên có lợi cho các nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Ông R đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án dân sự sơ theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và không cung cấp chứng cứ mới.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Trong giai đoạn phúc thẩm Chủ tọa, thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Xét kháng cáo của bị đơn nhận thấy:
- Về hình thức kháng cáo: vụ án được xét xử ngày 01/10/2024, đến ngày 15/10/2024 ông R kháng cáo. Như vậy, kháng cáo trong thời hạn luật định nên hợp lệ về mặt hình thức.
- Về nội dung kháng cáo, nhận thấy:
Nguồn gốc thửa đất 349 do bà N1 đứng tên giấy chứng nhận ngày 29/9/2004, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T chỉnh lý sang tên ông M ngày 13/7/2017, diện tích 2.900m2, diện tích đo đạc thực tế 2.606,2m², giảm 293,8m², nếu cộng phần đất tranh chấp 111,8m² thì diện tích thửa đất 349 thiếu 182m² so với diện tích được cấp giấy chứng nhận.
Nguồn gốc thửa đất 355 do ông T đứng tên giấy chứng nhận ngày 17/5/2005, diện tích 10.000m², diện tích đo đạc thực tế 8.955m², giảm 1.045m², nếu cộng phần đất tranh chấp 129,1m² thì diện tích thửa đất 355 thiếu 915,9m² so với diện tích được cấp giấy chứng nhận.
Nguồn gốc thửa đất 358 do ông T đứng tên giấy chứng nhận ngày 19/7/2013, diện tích 2.270m², diện tích đo đạc thực tế 1.707,2m², giảm 562,8m², nếu cộng phần đất tranh chấp 317m² thì diện tích thửa đất 358 thiếu 245,8m² so với diện tích được cấp giấy chứng nhận.
Nguồn gốc thửa đất 356, 357 do ông R đứng tên giấy chứng nhận ngày 15/10/1991, tổng diện tích 7.560m², diện tích đo đạc thực tế 8.606,4m², tăng 1.046,4m², nếu cộng tất cả diện tích đất tranh chấp thì thửa đất 356, 357 thừa 1.604,3m² so với tổng diện tích được cấp giấy chứng nhận.
Như vậy, diện tích sử dụng thực tế của ông T, ông M giảm so với diện tích được cấp giấy chứng nhận, trong khi diện tích sử dụng thực tế của ông R tăng. Mặt khác, theo giấy chứng nhận, thửa đất 356, 357 của ông R tiếp giáp sông V có chiều ngang là 20,5m, chiều ngang tiếp giáp thửa 355 là 24m, nhưng diện tích đo đạc thực tế chiều ngang lần lượt là 20,7m, 24,3m (chưa tính chiều ngang đang tranh chấp). Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, ông M là phù hợp.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án số 195/2024/DSST ngày 01/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, không chấp nhận kháng cáo của ông R.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn – ông Đào R: Theo đơn kháng cáo và lời trình bày của bị đơn xác định, bị đơn yêu cầu Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
[2] Nhận thấy, do các bên đương sự tranh chấp ranh giới đất với nhau nên để xem xét xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, cần xem xem xét đến tính pháp lý của các thửa đất, hiện trang thửa đất cũng như quá trình sử dụng đất của các bên.
- Về mặt pháp lý, theo hồ sơ thể hiện các thửa đất các bên tranh chấp đều đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quá trình giải quyết các đương sự đều thống nhất việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cơ quan có thẩm quyền không có khiếu nại gì về việc cấp giấy nên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các bên nguyên đơn, bị đơn đến thời điểm hiện tại vẫn có giá trị pháp lý và là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết tranh chấp của các bên.
- Về quá trình sử dụng đất: Tại phiên tòa các bên đều thừa nhận ranh đất của các bên trước đây đã được cắm các trụ ranh bằng bê tông và sử dụng ổn định theo ranh đất này từ trước đến nay, theo đó phần đất tranh chấp đều nằm trong phạm vi đất của các nguyên đơn quản lý sử dụng. Ông R cho rằng ngoài trụ ranh bằng bê tông thì còn có trụ bằng sắt. Tuy nhiên, các trụ sắt này do ông R tự cắm sau khi có tranh chấp, các bên không thống nhất nên không thể căn cứ vào trụ sắt này để xác định ranh đất của các bên.
- Về hiện trạng sử dụng đất, quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành đo đạc để xác định hiện trạng sử dụng đất của các bên, vị trí cũng như diện tích đất tranh chấp. Quá trình xét xử cáp sơ thẩm các bên đương sự đều thống nhất với Bản trích đo địa chính số 564/VPĐKĐĐ ngày 16/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C. Tại phiên tòa, bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Bản trích đo địa chính số 1451 ngày 11/12/2023 của Trung tâm K. Tuy nhiên, Bản trích đo địa chính số 564/VPĐKĐĐ ngày 16/8/2024 là Bản điều chỉnh của Bản bản vẽ 1451 ngày 11/12/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C và các bên cũng thống nhất với bản trích đo 564/VPĐKĐĐ ngày 16/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai. Mặt khác, Bản bản vẽ 1451 ngày 11/12/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C thì diện tích đất tranh chấp lớn hơn so với bản trích đo số 564 điều này không có lợi cho phía bị đơn nên Hội đồng xét xử áp dụng 564/VPĐKĐĐ ngày 16/8/2024 để làm căn cứ xác định hiện trạng sử dụng đất của các bên là phù hợp. Căn cứ vào bản trích đo địa chính số 564/VPĐKĐĐ ngày 16/8/2024 thì ông Trần Văn T đang sử dụng diện tích 317m² tại vị trí A và phần đất diện tích 129,1m² tại vị trí B; ông Đào R sử dụng phần đất diện tích 18,3m² tại vị trí C; ông Nguyễn Văn M đang sử dụng phần đất diện tích 93,5m2 tại vị trí D. Diện tích đo đạc thực tế thửa 356, 357 của ông R là 8.606,4m², dư 1.046,4m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp; diện tích đo đạc thực tế thửa 358 là 1.707,2m², thiếu 492,8m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp; diện tích đo đạc thực tế thửa 355 là 8955m², tức thiếu 1.045m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp; diện tích đo đạc thực tế thửa 349 là 2.606,2m², thiếu 293,8m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp. Hơn nữa căn cứ vào Bản trích đo này, chưa tính phần đất tranh chấp thì hiện trạng sử dụng đất của ông R có chiều ngang và dài đều lớn hơn diện tích đất được cấp, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, xét về tổng diện tích đất và kích thước đất thì ông R đã sử dụng nhiều hơn so với phần được cấp nên có căn cứ xác định phần đất tranh chấp diện tích 317m² tại vị trí A thuộc thửa 358; phần đất tranh chấp 129,1m² tại vị trí B là thuộc thửa 355; Phần đất tranh chấp diện tích 18,3m² tại vị trí C và diện tích 93,5m² tại vị trí D thuộc thửa 349. Do đó, cấp sơ thẩm đã tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là có cơ sở. Ông R kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên yêu cầu kháng cáo của ông là không có cơ sở chấp nhận.
Tại phiên tòa, ông R và ông C1 đều cho rằng trên phần đất tại vị trí C mà Tòa cấp sơ thẩm tuyên buộc ông R có trách nhiệm giao trả cho ông C1 còn có hàng rào kết cấu trụ bê tông và lưới B40 của ông R nhưng chưa buộc ông R di dời hàng rào này là còn thiếu sót và khó thi hành án. Nhận thấy, các bên đều thừa nhận hàng rào kết cấu trụ bê tông và lưới B40 không xây tường kiên cố đồng thời ông R cũng thừa nhận hàng rào này sử dụng chủ yếu để ngăn vật nuôi của ông không ra ngoài. Do đó Hội đồng xét xử, điều chỉnh thêm nội dung buộc ông R di dời hàng rào, việc di dời hàng rào này không gây thiệt hại và ảnh hưởng đến các kết cấu công trình khác của ông R đồng thời cũng không vượt quá phạm vi khởi kiện.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông R là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 12, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn – ông Đào Rùm .
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 195/2024/DS – ST ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ, có điều chỉnh thêm phần nội dung buộc di dời hàng rào.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn T.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M.
- Công nhận cho ông Trần Văn T phần đất diện tích 317m² tại vị trí A và phần đất diện tích 129,1m² tại vị trí B của Bản trích đo địa chính số 564/VPĐKĐĐ ngày 16/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
- Công nhận cho ông Nguyễn Văn M phần đất diện tích 18,3m² tại vị trí C và phần đất diện tích 93,5m² tại vị trí D của Bản trích đo địa chính số 564/VPĐKĐĐ ngày 16/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
- Buộc ông Đào R giao trả cho ông Nguyễn Văn M phần đất diện tích 18,3m² tại vị trí C của Bản trích đo địa chính số 564/VPĐKĐĐ ngày 16/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C. Ông R có trách nhiệm di dời hàng rào kết cấu trụ bê tông và lưới B40 trên phần đất giao trả cho ông M
Các phần đất nêu trên tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ.
- Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), bịị đơn ông Đào R phải chịu. Ông Nguyễn Văn M, ông Trần Văn T mỗi người đã nộp tạm ứng 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) nên ông Đào R có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Văn M 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), trả lại cho ông Trần Văn T 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) tại giai đoạn thi hành án.
- Về án phí dân sự:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Đào R được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Văn M được nhận lại 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí ông M đã nộp theo biên lai thu số 0005045 ngày 14/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đào R là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn nộp án phí theo quy định pháp luật.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, ngưòi phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điêu 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Loan |
Bản án số 34/2025/DSPT ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề
- Số bản án: 34/2025/DSPT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tám - Rùm - T/c ranh giới giữa các bất động sản liền kề
