Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TX. QUẾ VÕ

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/DS - ST

Ngày: 20/6/2025

V/v “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Hoài Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Nhụ và bà Nguyễn Thị Chung;

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Phương Thảo – Thư ký TAND thị xã Quế Võ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 140/2025/TLST-DS ngày 07/01/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST – DS ngày 04/6/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 41/2025/QĐ-TA ngày 16/6/2025, giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P3 (O):

Địa chỉ: Số D (tầng trệt, tầng lừng, tầng 1, tầng 2 của Toà nhà) và số D đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T – Chủ tịch hội đồng quản trị.

Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Trần Thị Tuyết N – Chức vụ: Giám đốc R kiêm Phó giám đốc Chi nhánh T7.

Người được uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Trần Văn T1, sinh năm 1992.

Chức vụ: Chuyên viên thu hồi nợ RB – Có mặt;

Địa chỉ: Tòa nhà T số B D, Cầu G, Hà Nội.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1989 – Vắng mặt;

Địa chỉ: Khu phố T, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Cụ Trần Văn Q, sinh năm 1941 – Vắng mặt;
  2. Cụ Đỗ Thị P, sinh năm 1940 – Vắng mặt;
  3. Ông Trần Hữu N1, sinh năm 1970 – Vắng mặt;

Cùng địa chỉ: Khu phố Đ, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày như sau:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần P3 với ông Nguyễn Văn S đã thỏa thuận ký kết Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ để vay vốn tại O, chi tiết như sau:

Hợp đồng tín dụng số 0154/2023/HĐTD-OCB-CN ngày 06/11/2023: Số tiền vay: 1.999.000.000 (Bằng chữ: Một tỉ chín trăm chín mươi chín triệu đồng); Mục đích vay: Vay bù đắp tiền mượn bên thứ ba mua bất động sản tại thửa đất số 06, tờ bản đồ số 20, địa chỉ phường N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Thời hạn vay: 300 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên; Lãi suất cho vay: Tiền lãi được tính trên trên cơ sở 1 năm là 365 ngày. Số tiền lãi phải trả = (số dư nợ thực tế tính lãi) x (Số ngày thực tế của kỳ tính lãi) x (Lãi suất (%/năm)) : 365. Lãi suất cho vay trong hạn: Theo thỏa thuận tại Khế ước nhận nợ: Lãi suất cho vay trong hạn 03 tháng đầu là: 9,4%/năm. Từ tháng 04 trở đi, lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 06 tháng/lần (sau đây gọi là Kỳ điều chỉnh lãi suất), kỳ điều chỉnh lãi suất đầu tiên vào ngày 08/02/2024 theo công thức tính lãi suất như sau: Lãi suất cho vay (điều chỉnh) = Lãi suất cơ sở (1) + biên độ tối thiểu (2) trong đó: Lãi suất cơ sở (1): là lãi suất cơ sở kỳ hạn 13 tháng theo biểu lãi suất được OCB ban hành từng thời kỳ. Biên độ tối thiểu (2): Tối thiểu 3,5%/năm. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn.

Việc giải ngân được thực hiện thông qua Khế ước nhận nợ số 0154/2023/KUNN-OCB-CN ngày 06/11/2023. Tài sản bảo đảm cho khoản vay là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 6, tờ bản đồ số 20, diện tích: 402,0 m², tọa lạc tại phường N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL049426, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CN 01346 do Chi nhánh Văn phòng đăng kí đất đai thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày ngày 16/10/2023. Tài sản bảo đảm đã được công chứng thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 2287 quyển số 01/2023/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/11/2023 và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định pháp luật.

Tổng nghĩa vụ nợ của ông Nguyễn Văn S tại OCB phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 0154/2023/HĐTD-OCB-CN ngày 06/11/2023, tính đến ngày 20/06/2025 (ngày xét xử) là:

Dư nợ khoản vay là 2.282.887.898 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ hai trăm tám mươi hai triệu tám trăm tám mươi bảy nghìn tám trăm chín mươi tám đồng; trong đó: Nợ gốc là 1.972.344.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 282.405.879 đồng, lãi quá hạn là 28.138.019 đồng. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nợ đến hạn thanh toán nhưng đến nay ông Nguyễn Văn S vẫn không thanh toán nợ vay cho Ngân hàng.

Vì vậy, ông Nguyễn Văn S đã vi phạm cam kết, nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín/Khế ước nhận nợ và các cam kết đã ký kết với OCB.

Những yêu cầu Tòa án giải quyết: Ngân hàng TMCP P3 kính đề nghị Q1 Tòa án xem xét giải quyết những yêu cầu sau:

Buộc ông Nguyễn Văn S trả cho Ngân hàng TMCP P3 tổng số nợ của Hợp đồng tín dụng số 0154/2023/HĐTD-OCB-CN ngày 06/11/2023 và các Khế ước nhận nợ đã được ký kết tính đến ngày 20/06/2025 (ngày xét xử) là 2.282.887.898 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ hai trăm tám mươi hai triệu tám trăm tám mươi bảy nghìn tám trăm chín mươi tám đồng), trong đó: Nợ gốc là 1.972.344.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 282.405.879 đồng, lãi quá hạn là 28.138.019 đồng và tiền lãi, phí phát sinh theo Hợp đồng tín dụng/Khế ước nhận nợ ký kết từ ngày 21/06/2025 cho đến khi ông Nguyễn Văn S hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng TMCP P3.

Nếu ông Nguyễn Văn S không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP P3 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế kể cả việc kê biên, phát mãi, xử lý tài sản bảo đảm đã thế chấp theo Hợp đồng bảo đảm tài sản số số công chứng: 2287 quyển số 01/2023/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/11/2023 giữa OCB với ông Nguyễn Văn S để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP P3 theo quy định của pháp luật.

Chi tiết tài sản bảo đảm như sau: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 6, tờ bản đồ số 20, diện tích: 402,0 m², tại phường N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL049426, Vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CN 01346 do Chi nhánh Văn phòng Đăng kí đất đai thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày ngày 16/10/2023.

Về án phí: Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

*Ý kiến của bị đơn ông Nguyễn Văn S trình bày: Ngày 06/11/2023, ông có ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP P3 để vay số tiền 1.999.000.000 đồng. Thời hạn vay là 300 ngày, mục đích vay là để bù đắp mượn tiền bên thứ 3 mua bất động sản tại thửa số 06, tờ bản đồ số 20, địa chỉ phường N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

Để bảo đảm cho khoản vay, ông có thế chấp thửa đất số 06, tờ bản đồ số 20, diện tích 402,0 m² tại khu phố Đ, phường N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất này, là do ông nhận chuyển nhượng và sau đó thế chấp chính thửa đất này để lấy tiền trả cho người bán. Việc nhận chuyển nhượng của hai bên là hợp pháp. Khi nhận chuyển nhượng thửa đất này, ông đã kiểm tra tình trạng pháp lý đầy đủ và có hỏi gia đình ông Trần Hữu N1 đang ở trên đất thì ông N1 có thừa nhận là đang ở thuê thửa đất này. Do cũng chưa làm gì, nên ông cũng vẫn tiếp tục để cho gia đình ông N1 thuê để ở vì ông biết thửa đất này trước đây là của gia đình ông N1, sau đã chuyển nhượng cho người khác và đã thế chấp tại ngân hàng A. Thửa đất này đã chuyển nhượng cho nhiều người, ông nhận chuyển nhượng lại thửa đất này của ông D (ông không nhớ họ tên và địa chỉ).

Sau khi thực hiện các thủ tục pháp lý về thế chấp và hợp đồng tín dụng, ông đã được Ngân hàng giải ngân toàn bộ số tiền theo khế ước nhận nợ. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông có trả 06 tháng tiền gốc và lãi nhưng sau đó do khó khăn nên ông không trả được nợ.

Nay Ngân hàng P3 khởi kiện ông, ông thừa nhận việc ngân hàng khởi kiện ông là đúng. Ông sẽ có trách nhiệm trả cho Ngân hàng P3 số tiền còn nợ cả gốc và lãi theo quy định. Trường hợp ông không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Về án phí: Ông Nguyễn Văn S tự nguyện chịu án phí DSST.

Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông đồng ý với ý kiến của ngân hàng, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ông Trần Hữu N1 – người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày: Thửa đất số 6, tờ bản đồ số 20, diện tích 420m2 tại khu phố Đ, phường N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh có nguồn gốc của ông cha để lại cho vợ chồng ông. Khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu tiên là cấp cho vợ chồng ông là Trần Hữu N1 và Nguyễn Thị T2. Hiện nay ông không nhớ cụ thể là năm bao nhiêu, chỉ nhớ khoảng năm 2020 ông có vay tiền của ông Nguyễn Văn T3 ở khu phố T, phường N số tiền 700.000.000 đồng, có để lại giấy chứng nhân quyền sử dụng đất để cầm cố làm tin. Sau đó, ông T3 có mang sổ đỏ của gia đình ông N1 mang cầm cố cho bà H ở Hà Nội. Bà H có bảo ông N1 ký các giấy tờ để thế chấp vay tiền. Do tin tưởng nên ông ký các giấy tờ bà H đưa nhưng vợ ông không ký. Sau đó ông được biết bà H làm giả hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Khi ngân hàng P3 đến làm việc thì ông mới được biết.

Hiện nay ông và bố mẹ ông là cụ Trần Văn Q, sinh năm 1941 và cụ Đỗ Thị P, sinh năm 1940 đang sinh sống trên đất, hai cụ đang già yếu bệnh tật không thể trình bày lời khai hay ký nhận bất kỳ giấy tờ gì. Sau khi được Toà án cho xem "Thoả thuận ba bên về việc tài sản bảo đảm được cho thuê" ngày 6/11/2023 và "Hợp đồng thuê mặt bằng" số 2310/2023 ngày 23/10/2023, ông xác nhận chữ ký trên văn bản này đúng là chữ ký của ông. Lúc đó ông S bảo ông ký thì ông ký vì ông với ông S có thoả thuận sau khi vay ngân hàng thì số tiền đó S một nửa, ông N1 một nửa. Tuy nhiên, sau khi Ngân hàng giải ngân tiền vay thì ông S không giao cho ông như đã thoả thuận. Việc thoả thuận này hai người chỉ nói miệng, không có văn bản cụ thể. Đối với bức tường vách ngăn giữa nhà ông và nhà ông Nguyễn Văn P1, bức tường này do gia đình ông xây dựng, ranh giới mốc giới giữa hai nhà đang sử dụng ổn định, không có tranh chấp gì. Đối với phần đất đằng trước phía nam của thửa đất, có một phần là đường ngõ xóm, do không ai đi qua nên gia đình ông đang tạm thời quản lý sử dụng. Về việc ngân hàng khởi kiện Nguyễn Văn S, ông không có ý kiến gì, đề nghị Toà án giải quyết theo đúng quy định pháp luật và xem xét lại toàn bộ thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên để đảm bảo quyền lợi của ông và bố mẹ ông đang sinh sống trên đất.

Ông Nguyễn Văn P1 trình bày: Gia đình ông đang sinh sống trên thửa đất liền kề giáp phía bắc của thửa đất số 06, ranh giới mốc giới của hai nhà đã có từ lâu. Từ trước đến nay gia đình các bên không hề có tranh chấp. Bức tường giáp ranh giữa hai nhà là do gia đình cụ P (gia đình ông Trần Hữu N1) xây dựng lên. Tứ cận xung quanh các nhà đã xây tường bao, khi xây dựng không ai có ý kiến hay tranh chấp gì. Phần đất của các hộ gia đình từ trước đến nay đều đang sử dụng ổn định theo đúng hiện trạng, không tranh chấp với bất cứ ai. Toàn bộ phần đất giáp với phía Bắc của thửa đất số 06 tờ bản đồ 20 tại khu phố Đ thuộc sở hữu của gia đình ông và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với việc bản đồ địa chính thể hiện phần đất có diện tích 22,1m² thuộc thửa đất số 06 tờ số 20 thì ông không đồng ý vì ông P1 và gia đình cụ P hai bên đã được xác định ranh giới mốc giới theo đúng hiện trạng sử dụng giữa hai nhà. Gia đình cụ P chính là người xây dựng bức tường giữa hai bên. Đối với việc ngân hàng khởi kiện có liên quan đến thửa đất 06 tờ bản đồ số 20, ông và gia đình không có ý kiến gì thêm. Đề nghị xác định ranh giới, mốc giới theo đúng hiện trạng sử dụng. Trong trường hợp Toà án bổ sung ông là người tham gia tố tụng thì ông và gia đình xin phép vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, phiên họp, phiên toà. Đề nghị Toà án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Xác minh với ông Nguyễn Văn T4 trưởng khu phố Đ: Trên thửa đất số 06, tờ bản đồ số 20, diện tích 402m2 tại phường N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh gồm có những người sau đây: Ông Trần Hữu N1, sinh năm 1970; cụ Trần Văn Q, sinh năm 1941 và cụ Đỗ Thị P, sinh năm 1940. Hiện hai cụ Q và cụ P sức khoẻ yếu, đã nằm liệt giường từ lâu. Ngoài ra, trên đất không có ai đang sinh sống khác.

Xác minh với ông Nguyễn Văn T5 – Cán bộ địa chính phường N: Theo danh sách các hộ dân được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở địa phương thôn Đ, xã N, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh có kèm theo tờ trình số 119/TTr-TNMT ngày 27/04/2010 của phòng TNMT huyện Quế Võ và Quyết định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 722/QĐ-UBND ngày 20/05/2010 của UBND huyện Q. Thửa đất số 06 tờ bản đồ số 20 diện tích 402m², loại đất ONT, nguồn gốc sử dụng trước năm 1980, được cấp Giấy chứng nhận lần đầu cho ông Trần Hữu N1 và bà Nguyễn Thị T6. Hiện nay về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Trần Hữu N1, bà Nguyễn Thị T6 thì các ông không năm rõ. Ở trên đất thời điểm hiện tại có ông N1 và bố mẹ là ông Trần Văn Q và bà Đỗ Thị P ở cùng, hai cụ hiện nay bị tai biến nằm liệt giường chiếu không có khả năng giao tiếp với mọi người xung quanh.

Quá trình xem xét thẩm định tài sản tại chỗ:

Tiến hành thẩm định thửa đất số 06, tờ bản đồ số 20, diện tích 402m² tại khu phố Đ, phường N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh thể hiện theo bản đồ địa chính như sau: Hướng Bắc giáp đường giao thông (nhà ông P1 sử dụng phần đường giao thông này làm ngõ đi); hướng Tây giáp đường bê tông; hướng Nam giáp đường giao thông nhưng nhà ông N1 đã quản lý, sử dụng cả phần đường giao thông này; hướng Đông giáp thửa đất số 7.

Tài sản trên đất gồm: 01 nhà 02 tầng xây dựng năm 1992; 01 công trình phụ quây tôn, 01 nhà cấp 4 lợp tôn xây dựng năm 1977; 01 mái che tôn, 01 sân lát gạch đỏ, 01 nhà vệ sinh, 01 bể nước, 01 mái che tôn thường, 01 sân bê tông, 01 cổng và 01 khu chăn nuôi đã cũ đều làm từ năm 1992.

Toàn bộ hiện trạng thửa đất được thể hiện cụ thể trên sơ đồ hiện trạng thửa đất do Công ty TNHH T8 đo vẽ và cung cấp cho Toà án nhân dân thị xã Quế Võ.

Tại phiên toà, người được uỷ quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Buộc Ông Nguyễn Văn S trả cho Ngân hàng TMCP P3 tổng số nợ của Hợp đồng tín dụng số 0154/2023/HĐTD-OCB-CN ngày 06/11/2023 và các Khế ước nhận nợ đã được ký kết tính đến ngày 20/06/2025 (ngày xét xử) là 2.282.887.898 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ hai trăm tám mươi hai triệu tám trăm tám mươi bảy nghìn tám trăm chín mươi tám đồng; trong đó: Nợ gốc là 1.972.344.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 282.405.879 đồng, lãi quá hạn là 28.138.019 đồng và tiền lãi, phí phát sinh theo Hợp đồng tín dụng/Khế ước nhận nợ ký kết từ ngày 21/06/2025 cho đến khi Ông Nguyễn Văn S hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng TMCP P3.

Trường hợp ông Nguyễn Văn S không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP P3 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế kể cả việc kê biên, phát mãi, xử lý tài sản bảo đảm đã thế chấp theo Hợp đồng bảo đảm tài sản số số công chứng: 2287 quyển số 01/2023/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/11/2023 giữa OCB với Ông Nguyễn Văn S để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP P3 theo quy định của pháp luật. Chi tiết tài sản bảo đảm như sau: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 6, tờ bản đồ số 20, diện tích: 402,0 m², tọa lạc tại phường N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL049426, Vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CN 01346 do Chi nhánh Văn phòng Đăng kí đất đai thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày ngày 16/10/2023. Về án phí, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. về chi phí thẩm định: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đại diện VKSND thị xã Quế Võ tham gia phiên toà nhận xét:

Về tố tụng: Thẩm phán chủ toạ đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; việc thu thập chứng cứ đầy đủ, khách quan, đảm bảo trình tự thủ tục tố tụng dân sự. Tại phiên toà HĐXX đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đảm bảo nguyên tắc xét xử công khai bằng lời nói và liên tục. Nguyên đơn thực thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71 và 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện đúng Điều 72 và 73 BLTTDS.

Về nội dung: Áp dụng: Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 274, 275, 280, 292, 293, 295, 299, 303, 307, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 324, 327, 353, 357, 463, 466, 470, 500, 502 và 503 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 167, 188 Luật đất đai năm 2013; Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng ăn phí, lệ phí Tòa án:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P3.

Buộc ông Nguyễn Văn S phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP P3, số nợ của Hợp đồng tín dụng số 0154/2023/HĐTD-OCB-CN ngày 06/11/2023 và các Khế ước nhận nợ đã được ký kết tính đến ngày 20/06/2025 (ngày xét xử) là 2.282.887.898 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ hai trăm tám mươi hai triệu tám trăm tám mươi bảy nghìn tám trăm chín mươi tám đồng; trong đó: Nợ gốc là 1.972.344.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 282.405.879 đồng, lãi quá hạn là 28.138.019 đồng và tiền lãi, phí phát sinh theo Hợp đồng tín dụng/Khế ước nhận nợ ký kết từ ngày 21/06/2025 cho đến khi ông Nguyễn Văn S hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng TMCP P3.

Nếu ông Nguyễn Văn S không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP P3 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế kể cả việc kê biên, phát mãi, xử lý tài sản bảo đảm đã thế chấp theo Hợp đồng bảo đảm tài sản số số công chứng: 2287 quyển số 01/2023/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/11/2023 giữa OCB với ông Nguyễn Văn S để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP P3 theo quy định của pháp luật.

Chi tiết tài sản bảo đảm như sau: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 6, tờ bản đồ số 20, diện tích: 402,0 m², tọa lạc tại phường N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL049426, Vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CN 01346 do Chi nhánh Văn phòng Đăng kí đất đai thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày ngày 16/10/2023.

  1. Về án phí: Ông S phải chịu án phí DSST theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, mặc dù đã được nhận giấy triệu tập lần 2 trực tiếp. Do vậy, HĐXX vẫn tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227 BLTTDS.

[2] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Ngân hàng TMCP P3 khởi kiện ông Nguyễn Văn S có địa chỉ tại Khu phố T, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh yêu cầu phải thanh toán số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết và thửa đất tranh chấp là thửa đất số 6, tờ bản đồ số 20 tại khu phố Đ, phường N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Do vậy, đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND thị xã Quế Võ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự

[3] Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy:

Xét Hợp đồng tín dụng số 0154/2023/HĐTD-OCB-CN ngày 06/11/2023:

Đây là hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần P3 – chi nhánh T7 với ông Nguyễn Văn S. Số tiền vay là 1.999.000.000 đồng; mục đích sử dụng vốn vay: Bù đắp tiền mượn bên thứ ba mua bất động sản tại thửa đất số 6, tờ bản đồ số 20, địa chỉ tại phường N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; thời hạn vay: 300 tháng kể từ ngày giải ngân lần đầu tiên; lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay trong hạn: Theo thỏa thuận tại Khế ước nhận nợ: Lãi suất cho vay trong hạn 03 tháng đầu là: 9,4%/năm. Từ tháng 04 trở đi, lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 06 tháng/lần, lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn. Ngày 06/11/2023, ông S đã ký Khế ước nhận nợ số 0154/2023/KUNN-OCB-CN và được giải ngân số tiền vay.

Hợp đồng giữa các bên được lập thành văn bản. Các thoả thuận và điều khoản trong hợp đồng tín dụng đều thể hiện ý chí tự nguyện của các bên khi giao kết hợp đồng và phù hợp với quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên hợp đồng này là hợp pháp. Do đó, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết và các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thoả thuận đã cam kết.

Ngày 06/11/2023, ông S đã ký Khế ước nhận nợ số 0154/2023/KUNN-OCB-CN và được giải ngân số tiền vay. Ông S cũng thừa nhận việc có ký hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp với Ngân hàng P3, xác nhận đã được nhận đầy đủ số tiền theo hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký. Quá trịnh thực hiện hợp đồng, ông S có trả số tiền gốc là 26.656.000 đồng và tiền lãi 55.912.807 đồng. Sau đó, do khó khăn nên không trả được nợ. Ông S cũng thừa nhận việc Ngân hàng khởi kiện là đúng, ông sẽ có trách nhiệm trả lại số tiền nợ gốc và lãi cho Ngân hàng P3. Do vậy, việc Ngân hàng P3 khởi kiện yêu cầu ông S phải trả số tiền gốc là tính đến ngày 20/06/2025 là 2.282.887.898 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ hai trăm tám mươi hai triệu tám trăm tám mươi bảy nghìn tám trăm chín mươi tám đồng; trong đó: Nợ gốc là 1.972.344.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 282.405.879 đồng, lãi quá hạn là 28.138.019 đồng và tiền lãi, phí phát sinh theo Hợp đồng tín dụng/Khế ước nhận nợ ký kết từ ngày 21/06/2025 cho đến khi ông Nguyễn Văn S hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng TMCP P3 là có căn cứ.

Xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất thì thấy:

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 2287, quyển số 01/2023TP/CC-SCC/HNGĐ ký ngày 06/11/2023 giữa ông Nguyễn Văn S và Ngân hàng TMCP P3 – Chi nhánh H1 tại Văn phòng C1. Ông Nguyễn Văn S ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đối với thửa đất số 6, tờ bản đồ số 20, diện tích 402 m², địa chỉ: Khu phố Đ, phường N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL 049426 số vào sổ cấp GCN CN 01346 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 16 tháng 10 năm 2023, mang tên ông Nguyễn Văn S, để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ tại hợp đồng tín dụng 0154/2023/HĐTD-OCB-CN ngày 06/11/2023 đã ký giữa Ngân hàng TMCP P3 – Chi nhánh H1 với ông S với số tiền gốc là 1.999.000.000 đồng.

Hợp đồng thế chấp trên được ký kết bằng văn bản, trên tinh thần tự nguyện, khi giao kết các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, không vi phạm điều cấm của pháp luật, các hợp đồng thế chấp được công chứng hợp pháp và đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định tại các Điều 116; 117; 119; 120, 317, 318, 319, 320, 502, 503 Bộ luật Dân sự năm 2015Điều 167, 188 Luật đất đai năm 2013 nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên theo quy định pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã thực hiện một phần nghĩa vụ là trả một phần số tiền gốc sau đó thì không trả được nữa và vi phạm nghĩa vụ.

Xét về ranh giới, mốc giới và hiện trạng sử dụng:

Thửa đất số 06 tờ bản đồ số 20, diện tích 402 m², địa chỉ: Khu phố Đ, phường N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh sau khi tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, xác định:

Phía Bắc giáp đường giao thông, nhà ông P1 đang sử dụng phần đường giao thông và một phần diện tích là 22.1m² của thửa đất số 06 tờ bản đồ số 20. Tuy nhiên, bức tường giáp ranh giữa hai nhà là do gia đình cụ P xây dựng lên. Ngoài ra, về hướng Nam của thửa đất, gia đình ông N1 có sử dụng và quản lý một phần đường giao thông là 29.7m2. Hiện nay, tứ cận xung quanh các nhà đã xây tường bao, khi xây dựng không ai có ý kiến hay tranh chấp gì. Phần đất của các hộ gia đình từ trước đến nay đều đang sử dụng ổn định theo đúng hiện trạng, không tranh chấp với bất cứ ai. Mặc dù, hiện trang sử dụng đất, không trùng khớp với sơ đồ thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, không ai yêu cầu xem xét về ranh giới, mốc giới nên HĐXX không xem xét.

Đối với việc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đang sinh sống trên đất: gồm cụ Trần Văn Q, cụ Đỗ Thị P và ông Trần Hữu N1: Xét thấy ngày 23/10/2023 ông Trần Văn S1 và ông Trần Hữu N1 đã ký kết hợp đồng thuê mặt bằng số 2310/2023, sau đó đến ngày 06/11/2023 thoả thuận ba bên được xác lập giữa Ngân hàng TMCP P3 – Chi nhánh T7, ông Nguyễn Văn S (bên cho thuê) và ông Trần Hữu N1 (Bên thuê) về việc tài sản bảo đảm được cho thuê. Đối với nội dung này, các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

Đối với việc ông N1 trình bày rằng có người đã làm giả hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ chồng ông, chữ ký trong các giấy tờ không phải do ông và vợ là bà Nguyễn Thị T2 ký, đề nghị Toà án xem xét lại toàn bộ thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất đang tranh chấp để đảm bảo quyền lợi của những người đang sinh sống trên đất là ông và bố mẹ ông. Theo hồ sơ do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã Q cung cấp ngày 12/3/2020, ông Trần Hữu N1 và bà Nguyễn Thị T2 chuyển nhượng cho bà Phạm Thị Mỹ H. Ngày 19/7/2022, bà H tặng cho con là Nguyễn Thăng Anh V. Ngày 18/8/2022, anh V chuyển nhượng cho bà Lưu Thị Tuyết M. Ngày 05/2023, bà M tặng cho ông Trần Lưu Minh D. Sau đó, ngày 03/10/2023, ông D chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn S. Các hồ sơ này khi chuyển nhượng đều đã được công chứng theo quy định của pháp luật. Như vậy, thửa đất số 06, tờ bản đồ số 20 tại khu phố Đ đã được chuyển nhượng cho nhiều người. Tuy nhiên, cho đến thời điểm diễn ra phiên toà sơ thẩm, ông Trần Hữu N1 không cung cấp được bất kỳ căn cứ nào để chứng minh việc trình bày của mình, không có đơn đề nghị xem xét nên không thuộc phạm vi khởi kiện trong vụ án này. Do vậy, HĐXX không xem xét, ông N1 có quyền khởi kiện nội dung này bằng một vụ án khác.

Tại phiên toà, đại diện VKS đã đề nghị HĐXX chấp nhận việc khởi kiện của nguyên đơn. Quan điểm của Kiểm sát viên là có căn cứ. Do vậy, HĐXX thấy rằng, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[4]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên Ngân hàng TMCP P3 (O) không phải chịu án phí DSST, được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Anh Nguyễn Văn S phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.

Về chi phí thẩm định: Do các đương sự không yêu cầu nên Toà án không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ Điều 30, 35, 39, 147, 157, 161, 186, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  2. Áp dụng Điều 274, 275, 280, 292, 293, 295, 299, 303, 307, 317, 318, 319, 325, 353, 357, 463, 466, 470, 500, 502 và 503 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 167, 188 Luật đất đai năm 2013; Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
  3. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P3.

Buộc ông Nguyễn Văn S phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP P3, số nợ của Hợp đồng tín dụng số 0154/2023/HĐTD-OCB-CN ngày 06/11/2023 và các Khế ước nhận nợ đã được ký kết tính đến ngày 20/06/2025 (ngày xét xử) là 2.282.887.898 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ hai trăm tám mươi hai triệu tám trăm tám mươi bảy nghìn tám trăm chín mươi tám đồng; trong đó: Nợ gốc là 1.972.344.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 282.405.879 đồng, lãi quá hạn là 28.138.019 đồng và tiền lãi, phí phát sinh theo Hợp đồng tín dụng/Khế ước nhận nợ ký kết từ ngày 21/06/2025 cho đến khi ông Nguyễn Văn S hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng TMCP P3.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử cho đến khi thi hành xong, ông S còn phải tiếp tục chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.

Trường hợp ông S không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP P3 có quyền yêu cầu Cơthián dân sự phát mại tài sản đảm bảo sau để thu hồi nợ. Chi tiết tài sản bảo đảm: thửa đất số 6, tờ bản đồ số 20, diện tích 402 m², địa chỉ: Khu phố Đ, phường N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL 049426 số vào sổ cấp GCN CN 01346 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 16 tháng 10 năm 2023, mang tên ông Nguyễn Văn S. Tài sản bảo đảm đã được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 2287, quyển số 01/2023TP/CC-SCC/HNGĐ ký ngày 06/11/2023 giữa ông Nguyễn Văn S và Ngân hàng TMCP P3 – Chi nhánh H1 tại Văn phòng C1 và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.

Trường hợp tài sản bảo đảm không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ của ông S, Ngân hàng TMCP P3 (O) có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền tiến hành xác minh, kê biên, phát mại các tài sản khác thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông S để trả nợ cho Ngân hàng.

Ngân hàng TMCP P3 (OCB) có trách nhiệm giải chấp đối với tài sản thế chấp khi ông Nguyễn Văn S thanh toán hết nợ.

  1. Án phí: Ông S phải chịu án phí DSST là 77.657.757 đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP P3 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 36.000.000 đồng (Ba mươi sáu triệu đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003196 ngày 07/01/2025 tại Chi cục THADS thị xã Q.

Về chi phí thẩm định: Không xem xét giải quyết.

  1. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  2. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được bản án tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
  • - Các đương sự và người tham gia tố tụng khác;
  • - Chi cục THADS thị xã Quế Võ.
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Hoài Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/DS - ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 34/2025/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger