TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2025/DS - ST
Ngày: 20/6/2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Tiếp
Ông Lê Cát Tưởng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 236/2025/TLST-DS ngày 28 tháng 03 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2025/QĐXXST -DS ngày 20 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 130/2025/QĐ - HPT ngày 03 tháng 6 năm 2025 giữa:
- Nguyên đơn: 1. Công ty cổ phần M1
Địa chỉ: Tầng A, tòa nhà V, số I D, phòng Dịch V, quận C, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Bùi Công T - Chức vụ: Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc T1 - Chức vụ: Phó Giám đốc Công ty (Theo văn bản ủy quyền số: 2309/2025/UQ-MARS(VPB) ngày 02/6/2025.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng:
Ông Cao Văn T2 - Chuyên viên XLN.
Ông Lê Văn C - Chuyên viên XLN.
Địa chỉ: Tầng C, Tòa nhà T, Lô B Đại lộ L, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
2. Ngân hàng TMCP M1 (V).
Địa chỉ: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP M1 (V).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Hoàng L - Chức vụ: Giám đốc Trung tâm thu hồi nợ khách hàng doanh nghiệp và xử lý nợ pháp lý (Theo Uỷ quyền số 38a/2024/UQN- CTQT ngày 01/06/2024 của ông Ngô Chí D).
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Tống Thị L1 - Chuyên viên xử lý nợ.
Địa chỉ liên hệ làm việc: Tầng C, Tòa nhà TTTM T, số B Đại Lộ L, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
(Theo văn bản ủy quyền ngày 04/3/2025).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Trọng T3, sinh năm 1972
Nơi cư trú: thôn T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên toà hôm nay có mặt đại diện nguyên đơn; vắng mặt bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện cho nguyên đơn theo uỷ quyền của Ngân hàng TMCP M1 và Công ty cổ phần M1 trình bày:
Ngày 27/02/2020 Ngân hàng V1 và ông Nguyễn Trọng T3 ký kết hợp đồng cho vay số LN200224219579 vay số tiền 150.000.000 đồng, thời hạn vay 48 tháng, mục đích vay: Vay mua sắm nội thất gia đình; lãi suất là 11.5%/năm (áp dụng trong vòng 03 tháng kể từ ngày 28/02/2020) và được điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng/01 lần; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi trong hạn; Lãi suất chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; Phương thức trả lãi: Vào ngày 19 hàng tháng (lãi suất ưu đãi được áp dụng 03 tháng đầu từ khi giải ngân khỏan tín dụng, hết thời hạn nói trên lãi suất được điều chỉnh lại 3 tháng 1 lần bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ 4%/năm); phương thức trả gốc: vào ngày 19 hàng tháng, kỳ trả đầu tiên 19/3/2020 mỗi kỳ trả 3.125.000 đồng, riêng kỳ cuối cùng trả 3.125.000 đồng; cùng ngày anh T3 đăng ký thẻ tín dụng quốc tế tại V1, hạn mức là 53.000.000đ, mục đích tiêu dùng, ngân hàng đã chấp nhận và phát hành cho anh được sử dụng thẻ tín dụng tại Ngân hàng hạn mức phê duyệt là 53.000.000₫.
Ngày 30/05/2024, tại Hợp đồng mua bán nợ số 04/2024/VPB-MARS, V1 đồng ý bán và Công ty cổ phần M1 (sau đây gọi tắt là “Công ty M1”) đồng ý mua một phần khoản nợ phát sinh theo (các) Hợp đồng tín dụng/Hợp đồng cho vay ký giữa V1 với ông Nguyễn Trọng T3, cụ thể: Một phần (90%) khoản nợ phát sinh theo (các) Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2304038810439 ngày 08/4/2023; Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn, hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không tài sản bảo đảm, dịch vụ ngân hàng điện tử vay số tiền 53.000.000 đồng.
Ngày 30/11/2024, tại Hợp đồng mua bán nợ số 14/2024/VPB-MARS, V1 đồng ý bán và Công ty cổ phần M1 (sau đây gọi tắt là “Công ty M1”) đồng ý mua một phần khoản nợ phát sinh theo (các) Hợp đồng tín dụng/Hợp đồng cho vay ký giữa V1 với Ông Nguyễn Trọng T3, cụ thể như sau: Một phần (9%) khoản nợ phát sinh theo (các) Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2304038810439 ngày 08/4/2023; Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn, hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không tài sản bảo đảm, dịch vụ ngân hàng điện tử vay số tiền 53.000.000 đồng.
Như vậy, tỷ lệ sở hữu khoản nợ sau hai lần bán nợ trên thì Ngân hàng V1 sở hữu 1% và Công ty M1 là 99%.
Tài sản bảo đảm cho các khoản vay nêu trên là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ thửa đất số 582-2, tờ bản đồ: 02, địa chỉ: thôn T, xã Q (nay là phường Q), thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 611863, số vào sổ cấp GCN: CH-01551 do UBND thành phố T, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 05/02/2018 cho ông Nguyễn Trọng T3. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp số LN1802280531449 ngày 02/03/2018 và Phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 27/02/2020 về việc Sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp số LN1802280531449 ký ngày 02/03/2018.
Quá trình thực hiện Hợp đồng cho vay: Ông Nguyễn Trọng T3 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 19/08/2023 nên toàn bộ (các) khoản nợ đã chuyển sang quá hạn và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn.
Tổng số tiền khách hàng đã trả đến ngày 11/04/2025: Ông Nguyễn Trọng T3 đã trả là 185.056.963 đồng (trong đó: số tiền gốc là: 137.278.106 đồng; trả lãi là: 47.778.857 đồng).
Ngày 11/04/2025 Nguyễn Trọng T3 còn nợ V1 và Công ty M1 tổng số tiền là 100.833.291 đồng, (chi tiết cụ thể: Hợp đồng số LD 2005901224 ngày 28/02/2020 với số tiền vay: 150.000.000 đồng, trong đó nợ gốc của Công ty M1 là: 39.641.125 đồng; lãi: 19.683.932 đồng và của V2 nợ gốc: 400.415 đồng; lãi: 198.828 đồng. Tổng số tiền của LD 2005901224 ngày 28/02/2020 là: 59.924.300 đồng. Thẻ tín dụng ngày 22/12/2020 số tiền vay: 53.000.000 đồng, trong đó nợ gốc của MARS: 25.423.550 đồng; lãi: 15.076.351 đồng và của V2 nợ gốc: 256.804 đồng; lãi: 152.286 đồng. Tổng số tiền của của thẻ tín dụng là: 40.908.991 đồng).
Như vậy, ông Nguyễn Trọng T3 còn nợ tổng số tiền 100.833.291 đồng, trong đó: Công ty M1: Nợ gốc: 65.064.675 đồng; nợ lãi trong hạn: 11.888.316 đồng; nợ lãi quá hạn: 22.871.967 đồng. Tổng cộng: 99.824.958 đồng và của Ngân hàng V1: Nợ gốc: 657.219 đồng; nợ lãi trong hạn: 120.084 đồng; nợ lãi quá hạn: 231.030 đồng. Tổng cộng: 1.008.333 đồng.
Ngày 02/6/2025, Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng V1 đã có đơn yêu cầu xin rút một phần trong nội dung khởi kiện đối toàn bộ số tiền nợ gốc và nợ lãi của Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn, hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không tài sản bảo đảm, dịch vụ ngân hàng điện tử vay số tiền 53.000.000 đồng và yêu cầu tiếp tục khởi kiện đối với Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2002242191579 ngày 27/02/2020 số tiền cho vay: 150.000.000 đồng.
Tính đến thời điểm ngày 20/6/2025 (xét xử), ông Nguyễn Trọng T3 còn nợ Công ty cổ phần M1 số tiền là 62.596.306 đồng, trong đó cụ thể như sau: Nợ gốc: 39.641.125 đồng; Nợ lãi trong hạn: 1.119.414 đồng; Nợ lãi quá hạn: 21.835.767 đồng và của Ngân hàng V1 số tiền là 632.285 đồng, trong đó cụ thể như sau: Nợ gốc: 400.415 đồng; Nợ lãi trong hạn: 11.307 đồng; Nợ lãi quá hạn và chậm trả: 220.563 đồng. Tổng số tiền ông Nguyễn Trọng T3 còn nợ của Ngân hàng V1 và Công ty cổ phần M1 là: 63.228.591 đồng (trong đó: tiền gốc: 40.041.540 đồng; lãi trong hạn: 1.130.271 đồng; lãi quá hạn: 22.056.330 đồng) và tiếp tục tính lãi suất theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay cho kể từ ngày 21/6/2025 đến ngày thực tế ông Nguyễn Trọng T3 thanh toán hết nợ cho M và V1.
Trường hợp ông Nguyễn Trọng T3 không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, thị Ngân hàng TMCP V3 và Công ty cổ phần M1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại các tài sản của ông Nguyễn Trọng T3 để thu hồi nợ, cụ thể là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ thửa đất số 582-2, tờ bản đồ: 02, địa chỉ: thôn T, xã Q (nay là phường Q), thành phố T, Tỉnh Thanh Hóa, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 611863, số vào sổ cấp GCN: CH-01551 do UBND thành phố T, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 05/02/2018 cho ông Nguyễn T4. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp số LN1802280531449 ngày 02/03/2018 và Phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 27/02/2020 về việc Sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp số LN1802280531449 ký ngày 02/03/2018.
Việc thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật. Mọi công trình, tài sản khác được cải tạo, xây dựng gắn liền với thửa đất nêu trên đều thuộc tài sản đảm bảo cho khoản vay.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật đối với ông Nguyễn Trọng T3 không đến Tòa án để tự khai cũng như tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Qua xác minh tại chính quyền địa phương cung cấp ông Nguyễn Trọng T3 đã đi làm ăn không có mặt tại địa phương, nên Tòa án đã lập biên bản về việc đương sự vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, đề nghị Tòa án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của BLTTDS để xét xử. Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017:
- - Đình chỉ đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Trọng T3 phải trả nợ gốc và nợ lãi theo Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn, hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không tài sản bảo đảm, dịch vụ ngân hàng điện tử vay số tiền 53.000.000 đồng.
- - Chấp nhận yêu cầu buộc ông T3 phải trả nợ cho Ngân hàng và Công ty M1 theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2002242191579 ngày 27/02/2020 tổng số tiền 63.228.591 đồng (trong đó nợ gốc là 40.041.540 đồng; nợ lãi trong hạn: 1.130.721 đồng; Nợ lãi quá hạn và chậm trả: 22.056.330 đồng), cụ thể:
- + Trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 632.285 đồng, trong đó: nợ gốc: 400.415 đồng; lãi trong hạn: 11.307 đồng; lãi quá hạn: 220.563 đồng.
- + Trả cho Công ty cổ phần M1 số tiền là 62.596.306 đồng, trong đó: nợ gốc: 39.641.125 đồng; nợ lãi trong hạn: 1.119.414 đồng; nợ lãi quá hạn: 21.835.767 đồng.
- - Về án phí: Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ông Nguyễn Trọng T3 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP M1 số tiền 300.000đ và cho Công ty cổ phần M1 số tiền 2.432.000 đồng tiền tạm ứng đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1]. Về thủ tục tố tụng:
Tranh chấp giữa nguyên đơn Ngân hàng TMCP M1 và Công ty cổ phần M1 với bị đơn ông Nguyễn Trọng T3 là Tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Bị đơn có địa chỉ tại thôn T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.
Tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS để giải quyết vắng mặt đương sự là phù hợp quy định của pháp luật.
- [2]. Về nội dung:
- [2.1] Về hợp đồng tín dụng: Giữa Ngân hàng TMCP V3 với ông Nguyễn Trọng T3 ký Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2002242191579 ngày 27/02/2020 và Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn, hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không tài sản bảo đảm. Việc kí hợp đồng tín dụng giữa các bên là tự nguyện, người tham gia ký hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật do đó Hợp đồng tín dụng trên là hợp pháp và có hiệu lực thi hành đối với các bên.
- Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn chậm trả nợ từ ngày 19/08/2023 mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc. Như vậy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng. Ngân hàng đã chuyển khoản nợ của bị đơn sang nợ quá hạn và khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp là đúng theo thỏa thuận của các bên đã ký.
- Việc tính lãi của Ngân hàng: Căn cứ vào các điều khoản trong hợp đồng và điều kiện sử dụng thẻ, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng đã ký về lãi suất quá hạn đối với thẻ tín dụng. Lãi suất được tính trên cơ sở một năm có 365 ngày là phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Thông tư số 39/2016/TT - NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N.
- Ngày 30/05/2024 và ngày 30/11/2024, V1 đồng ý bán và Công ty cổ phần M1 (sau đây gọi tắt là “Công ty M1”) đồng ý mua một phần khoản nợ phát sinh theo (các) Hợp đồng tín dụng/Hợp đồng cho vay ký giữa V1 với và ngày 30/11/2024, tại Hợp đồng mua bán nợ số 14/2024/VPB-MARS, V1 đồng ý bán và Công ty cổ phần M1 (sau đây gọi tắt là “Công ty M1”) đồng ý mua một phần khoản nợ phát sinh theo (các) Hợp đồng tín dụng/Hợp đồng cho vay ký giữa V1 với Ông Nguyễn Trọng T3 và Công ty M1 kế thừa một phần quyền, nghĩa vụ của V1 phát sinh từ các hợp đồng này và các biện pháp bảo đảm kèm theo. Trong đó, có quyền thực hiện khởi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm tại Tòa án theo quy định pháp luật. Đồng thời, V1 tiếp tục là chủ nợ và bên nhận bảo đảm tương ứng với phần khoản nợ chưa bán cho Công ty M1. Trong Hợp đồng nêu trên đã được các bên ký kết theo quy định của pháp luật. Nội dung, điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với pháp luật, cần được chấp nhận.
- Ngày 02/6/2025 và tại phiên tòa, nguyên đơn Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng V1 đã có đơn yêu cầu xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối toàn bộ số tiền nợ gốc và nợ lãi của Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn, hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không tài sản bảo đảm, dịch vụ ngân hàng điện tử vay số tiền 53.000.000 đồng. Việc xin rút một phần yêu cầu của Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng V1 là hoàn toàn tự nguyện, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Như vậy, xét yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp, phù hợp với quy định tại Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự. Điều 90; Điều 91; khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Nguyễn Trọng T3 phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP V3 và Công ty M1 toàn bộ số tiền theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2002242191579ngày 27/02/2020 tính đến ngày 20/6/2025 (ngày xét xử sơ thẩm) ông Nguyễn Trọng T3 còn nợ Công ty cổ phần M1 số tiền là 62.596.306 đồng, trong đó cụ thể như sau: Nợ gốc: 39.641.125 đồng; Nợ lãi trong hạn: 1.119.414 đồng; Nợ lãi quá hạn và chậm trả: 21.835.767 đồng và của Ngân hàng V1 số tiền là 632.285 đồng, trong đó cụ thể như sau: Nợ gốc: 400.415 đồng; Nợ lãi trong hạn: 11.307 đồng; Nợ lãi quá hạn và chậm trả: 220.563 đồng và tiếp tục tính lãi suất theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay cho kể từ ngày 21/6/2025 đến ngày thực tế ông Nguyễn Trọng T3 thanh toán hết nợ cho M và V1.
- Về Hợp đồng thế chấp tài sản: Để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ giữa Ngân hàng TMCP M1 và ông Nguyễn Trọng T3 đã ký kết Hợp đồng thế chấp số LN1802280531449 ngày 02/03/2018; Phụ lục Hợp đồng số 01/PLHĐ sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LN1802280531449 của Ngân hàng TMCP V3 ký ngày 27/2/2020. Việc thế chấp đã được đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố T chứng nhận vào ngày 02/3/2018 và ngày 27/2/2020 theo đúng trình tự thủ tục pháp luật. Theo Hợp đồng thế chấp thỏa thuận về tài sản thế chấp được cam kết về biện pháp xử lý tài sản bảo đảm, quyền và trách nhiệm của bên vay về trả nợ vay, về các nghĩa vụ bảo đảm nợ vay và các nội dung khác đã cam kết trong hợp đồng. Vì vậy, yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để bảo đảm việc thu hồi nợ của Công ty cổ phần M1 là có căn cứ, cần chấp nhận.
- Trường hợp xử lý phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ mà không đủ trả nợ thì ông Nguyễn Trọng T3 phải có trách nhiệm thanh toán số nợ còn lại cho Ngân hàng TMCP M1 và Công ty cổ phần M1 cho đến khi trả nợ xong.
- [3]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên không phải chịu án phí. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271, 273; khoản 2 Điều 224 của BLTTDS; Điều 90; khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95; điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 293, 299; Điều 317; Điều 319; Điều 322; khoản 7 Điều 323; Điều 463; Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 6; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Xử:
- - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP M1 và Công ty cổ phần M1.
- - Đình chỉ xét xử yêu cầu của Ngân hàng TMCP M1 và Công ty cổ phần M1 đối với Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn, hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không tài sản bảo đảm, dịch vụ ngân hàng điện tử vay số tiền 53.000.000 đồng.
- - Buộc ông Nguyễn Trọng T3 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP M1 và Công ty cổ phần M1 khoản tiền vay còn nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2002242191579 ngày 27/02/2020 tính đến ngày 20/6/2025 (ngày xét xử sơ thẩm) cụ thể của Công ty cổ phần M1 số tiền là 62.596.306 đồng, trong đó cụ thể như sau: Nợ gốc: 39.641.125 đồng; Nợ lãi trong hạn: 1.119.414 đồng; Nợ lãi quá hạn và chậm trả: 21.835.767 đồng và của Ngân hàng V1 số tiền là 632.285 đồng, trong đó cụ thể như sau: Nợ gốc: 400.415 đồng; Nợ lãi trong hạn: 11.307 đồng; Nợ lãi quá hạn và chậm trả: 220.563 đồng. Tổng cộng là: 63.228.591 đồng.
Kể từ ngày 21/6/2025, ông Nguyễn Trọng T3 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng mà hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng thỏa thuận cho vay, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
Trong trường hợp ông Nguyễn Trọng T3 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền trên, Ngân hàng TMCP M1 và Công ty cổ phần M1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án kê biên phát mại tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ thửa đất số 582-2, tờ bản đồ: 02, địa chỉ: thôn T, xã Q (nay là phường Q), thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 611863, số vào sổ cấp GCN: CH-01551 do UBND thành phố T, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 05/02/2018 cho ông Nguyễn Trọng T3 theo Hợp đồng thế chấp số LN1802280531449 ngày 02/03/2018 và Phụ lục Hợp đồng số 01/PLHĐ sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LN1802280531449 ngày 27/2/2020.
- - Về án phí: Ông Nguyễn Trọng T3 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 3.161.000 đồng (làm tròn số).
Trả lại cho Công ty cổ phần M1 toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.432.000 đồng theo biên lai thu tiền số BLTU/24/0006744 ngày 27/3/2025 và trả lại Ngân hàng TMCP M1 toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số BLTU/24/0006745 ngày 27/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- - Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan Anh |
Bản án số 34/2025/DS - ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 34/2025/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dân sự
