|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2025/DS-ST Ngày: 01-4-2025 Về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA - TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Nhị
- Ông Bùi Mạnh Quyết
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa tham dự phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 292/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-DS, ngày 21 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (B1)
Địa chỉ: Số B T, Phường B, Thành phố T, Tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Thái H. Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của bà H: Ông Nguyễn Văn L. Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của ông L: Bà Văn Thị Phương T. Chức vụ: Trưởng bộ phận kinh doanh.
2. Bị đơn:
- Ông Phạm Văn P, sinh năm 1974.
- Bà Lê Thị Trường A, sinh năm 1976.
Cùng địa chỉ: ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Long An.
(Các đương sự có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (viết tắt Ngân hàng B) là bà Văn Thị Phương T trình bày:
Ngày 11/09/2023, ông Phạm Văn P, bà Lê Thị Trường A đã ký với Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh L1 hợp đồng tín dụng số 0171/2023/HĐTD/BAC A1-LA. Theo đó, ngân hàng B đồng ý cho ông Phạm Văn P, bà Lê Thị Trường A vay số tiền: 4.000.000.000 đồng (bằng chữ: Bốn tỷ đồng); thời hạn vay: 12 tháng; mục đích vay: bổ sung vốn kinh doanh mua bán lúa, gạo; lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 10,55%/năm.
Ngày 12/09/2023, ông Phạm Văn P, bà Lê Thị Trường A ký Khế ước nhận nợ số 01.0171/2023/HĐTD/BAC A1, ngân hàng B đã giải ngân cho ông P bà A số tiền: 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng).
Ngày 14/09/2023, ông Phạm Văn P, bà Lê Thị Trường A ký Khế ước nhận nợ số 02.0171/2023/HĐTD/BAC A1, ngân hàng B đã giải ngân cho ông P bà A số tiền: 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng).
Sau khi Ngân hàng giải ngân cho ông P bà A số tiền: 4.000.000.000 đồng thì ông bà có trả tiền lãi cho Ngân hàng đối với khế ước nhận nợ số 01.0171 từ ngày 12/9/2023 đến ngày 25/9/2023, đối với khế ước nhận nợ số 02.0171 trả tiền lãi từ ngày 14/9/2023 đến ngày 25/9/2023 rồi ngưng cho đến nay không trả tiền lãi, tiền gốc cho Ngân hàng.
Tiếp theo ông Phạm Văn P, bà Lê Thị Trường A đã ký với Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh L1 ký kết các hợp đồng thế chấp số 0068/2022/HĐTC/BAC A1-LA ngày 21/04/2022, Phụ lục Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số PL01-0068/2022/HĐTC/BAC A1-LA ngày 11/09/2023, Hợp đồng thế chấp số 002-0068/2022/HĐTC/BAC A1-LA ngày 25/04/2022, Phụ lục Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số PL01-002-0068/2022/HĐTC/BAC A1-LA ngày 11/09/2023 để đảm bảo cho khoản vay. Các Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên gồm: Tài sản 1: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 6175, tờ bản đồ số 3 tại phường F, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 704185, số vào sổ cấp GCN: CS 14147 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 15/02/2022, cập nhật biến động chuyển nhượng cho Bà Lê Thị Trường A ngày 14/4/2022. Tài sản 2: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 8969, tờ bản đồ số 3 tại phường F, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 117762, số vào sổ cấp GCN: CS 12647 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 30/9/2019, cập nhật biến động chuyển nhượng cho Bà Lê Thị Trường A ngày 21/4/2022.
Do ông Phạm Văn P, bà Lê Thị Trường A không thanh toán đầy đủ tiền lãi cho ngân hàng B theo đúng thỏa thuận nên đã vi phạm Điều 12 của hợp đồng tín dụng. Sau khi chuyển sang nợ quá hạn, ngân hàng B đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện thuận lợi nhưng ông Phạm Văn P, bà Lê Thị Trường A vẫn không trả nợ theo quy định tại hợp đồng tín dụng và các cam kết đã ký.
Nay Ngân hàng B khởi kiện yêu cầu ông Phạm Văn P, bà Lê Thị Trường A liên đới trả cho ngân hàng B tổng số tiền nợ tính đến ngày xét xử là 4.928.288.105đồng, trong đó: Nợ gốc là 4.000.000.000đ; Nợ lãi trong hạn chưa thanh toán 199.662.438đ; Nợ lãi phạt chậm thanh toán lãi 24.801.010đồng và lãi trên nợ gốc quá hạn là 703.824.658đồng đồng thời yêu cầu ông Phạm Văn P và bà Lê Thị Trường A trả toàn bộ các khoản tiền lãi, lãi quá hạn phát sinh đến ngày thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng nêu trên. Trường hợp ông Phạm Văn P và bà Lê Thị Trường A không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần B được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp số 0068/2022/HĐTC/BAC A1-LA ngày 21/04/2022, Phụ lục Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số PL01-0068/2022/HĐTC/BAC A1-LA ngày 11/09/2023, Hợp đồng thế chấp số 002-0068/2022/HĐTC/BAC A1-LA ngày 25/04/2022, Phụ lục Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số PL01-0020068/2022/HĐTC/BAC A1-LA ngày 11/09/2023. Trong trường hợp phát mãi tài sản bảo đảm mà không đủ thu hồi nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần B yêu cầu ông Phạm Văn P và bà Lê Thị Trường A tiếp tục nghĩa vụ trả nợ. Đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ngoài ra ngân hàng không có ý kiến hay yêu cầu nào khác.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Phạm Văn P bà Lê Thị Trường A trình bày: Ông P và bà A thống nhất với lời trình bày của đại diện Ngân hàng B về việc ký kết hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp như đại diện Ngân hàng trình bày: Ngày 11/09/2023, vợ chồng bà A ông P đã ký với Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh L1 Hợp đồng tín dụng số 0171/2023/HĐTD/BAC Al-LA để vay số tiền: 4.000.000.000 đồng (Bốn tỷ đồng); thời hạn vay: 12 tháng; mục đích vay: bổ sung vốn kinh doanh mua bán lúa, gạo; lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 10,55%/năm.
Ngày 12/09/2023, vợ chồng bà A ông P có ký Khế ước nhận nợ số 01.0171/2023/HĐTD/BAC A1-LA, B1 đã giải ngân số tiền 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng).
Ngày 14/09/2023, vợ chồng bà A ông P ký Khế ước nhận nợ số 02.0171/2023/HĐTD/BAC A1-LA, B1 đã giải ngân số tiền 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng).
Sau khi được Ngân hàng giải ngân số tiền: 4.000.000.000 đồng thì ông bà có trả tiền lãi cho Ngân hàng đối với khế ước nhận nợ số 01.0171 từ ngày 12/9/2023 đến ngày 25/9/2023, đối với khế ước nhận nợ số 02.0171 trả tiền lãi từ ngày 14/9/2023 đến ngày 25/9/2023 thì ngưng cho đến nay không trả tiền lãi, tiền gốc cho Ngân hàng. Nay tại phiên tòa ông P bà A thống nhất còn nợ Ngân hàng B số tiền là 4.928.288.105đồng, trong đó: Nợ gốc là 4.000.000.000đ; Nợ lãi trong hạn chưa thanh toán là 199.662.438đồng; Nợ lãi phạt chậm thanh toán lãi là 24.801.010đồng và lãi trên nợ gốc quá hạn là 703.824.658đồng nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên chỉ xin trả gốc và xin ngân hàng bỏ lãi cho ông bà. Bà xin được tự bán đất để trả nợ cho Ngân hàng nên không đồng ý xử lý tài sản thế chấp. Hiện tại tài sản thế chấp ông P bà A đang trực tiếp quản lý sử dụng không cho cá nhân nào thuê mướn đất. Đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ thì đề nghị Ngân hàng đi khởi kiện thì Ngân hàng chịu chi phí này. Ngoài ra không có ý kiến hay yêu cầu nào khác.
Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới. Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn vẫn giữ nguyên ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An phát biểu: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp và đúng tư cách các đương sự, việc giải quyết vụ án đúng thời hạn quy định. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã tuân theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần B khởi kiện ông Phạm Văn P bà Lê Thị Trường A trả số tiền vay và lãi theo hợp đồng tín dụng. Đây là tranh chấp về dân sự chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Ông Phạm Văn P bà Lê Thị T1 An cư trú tại ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Long An, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ thì tranh chấp trên thuộc thẩm quyền thụ lý giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về tiền vốn vay:
Ngày 11/9/2023, giữa ông Phạm Văn P bà Lê Thị Trường A và Ngân hàng Thương mại Cổ phần B đã ký kết hợp đồng tín dụng số 0171/2023/HĐTD/BAC A1-LA để vay số tiền 4.000.000.000 đồng. Ngày 12/9/2023 và ngày 14/9/2023, ngân hàng giải ngân cho ông P và bà A số tiền vốn vay 4.000.000.000₫.
Nhận thấy: Hợp đồng tín dụng được các bên ký kết có hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật. Trong hợp đồng, các bên tự nguyện giao kết thực hiện hợp đồng và cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung hợp đồng, tại thời điểm ký hợp đồng các bên đều có đầy đủ năng lực về hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, nội dung và hình thức của các Hợp đồng phù hợp với các quy định của Luật các tổ chức tín dụng và Bộ luật Dân sự. Sau khi Ngân hàng giải ngân cho ông P bà A số tiền 4.000.000.000 đồng, đến hạn thanh toán ông P bà A không trả tiền gốc cho Ngân hàng B là vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng Thương mại Cổ phần B khởi kiện yêu cầu ông Phạm Văn P bà Lê Thị Trường A trả tiền gốc vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết là có cơ sở nên được chấp nhận.
[2.2] Về yêu cầu tiền lãi của Ngân hàng:
Quá trình vay vốn ông P bà A có trả tiền lãi cho Ngân hàng đối với khế ước nhận nợ số 01.0171 từ ngày 12/9/2023 đến ngày 25/9/2023, đối với khế ước nhận nợ số 02.0171 từ ngày 14/9/2023 đến ngày 25/9/2023 thì ngưng không tiếp tục trả tiền lãi là vi phạm nghĩa vụ trả lãi. Tại phiên tòa, Ngân hàng yêu cầu ông P và bà A trả lãi trong hạn theo lãi suất 10,55%/năm trên nợ gốc, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn, lãi chậm trả lãi là 10%/năm trên số tiền lãi chưa thanh toán. Xét thấy, việc các bên thỏa thuận về lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả lãi là đúng pháp luật, phù hợp với quy định tại Luật các tổ chức tín dụng và Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng N nên được chấp nhận.
[2.3]. Xét hợp đồng thế chấp:
Khi vay vốn ông P bà A và Ngân hàng Thương mại Cổ phần B ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0068/2022/HĐTC/BAC A1-LA ngày 21/04/2022, Phụ lục Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số PL01-0068/2022/HĐTC/BAC A1-LA ngày 11/09/2023, Hợp đồng thế chấp số 002-0068/2022/HĐTC/BAC A1-LA ngày 25/04/2022, Phụ lục Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số PL01-002-0068/2022/HĐTC/BAC A1-LA ngày 11/09/2023. Việc thế chấp tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Long An ngày 21/4/2022 và ngày 26/4/2022 nên có hiệu lực pháp luật, do đó trường hợp ông P và bà A không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi thì ngân hàng có quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay là phù hợp nên được chấp nhận.
[3]. Xét ý kiến của ông P và bà A:
ông P bà A đề nghị Ngân hàng cho trả nợ gốc và xin không trả lãi nhưng không được Ngân hàng đồng ý nên ý kiến của ông P bà A không được chấp nhận.
[4] Về chi phí thẩm định tài sản:
do yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B được chấp nhận nên ông Phạm Văn P bà Lê Thị Trường A phải chịu toàn bộ chi phí và có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng B số tiền 3.000.000đ.
[5] Tại phiên tòa,
lời phát biểu của Kiểm sát viên là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí:
Do yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B được chấp nhận nên ông Phạm Văn P bà Lê Thị Trường A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, Điều 35 và Điều 39, Điều 147 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 91, 98 Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, ngày 16 tháng 6 năm 2010.
Căn cứ các Điều 317, 319, 320, 385, 398, 401 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng N.
Căn cứ khoản 2 Điều 8 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B đối với ông Phạm Văn P, bà Lê Thị Trường A về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Buộc ông Phạm Văn P, bà Lê Thị Trường A có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B tổng cộng số tiền 4.928.288.105đồng, trong đó: Nợ gốc là 4.000.000.000đ; Nợ lãi trong hạn chưa thanh toán là 199.662.438đồng; Nợ lãi chậm trả lãi là 24.801.010đồng và lãi trên nợ gốc quá hạn là 703.824.658đồng.
Từ ngày 02/4/2025, ông Phạm Văn P bà Lê Thị Trường A chưa trả số tiền trên, thì ông Phạm Văn P bà Lê Thị Trường A còn phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Tiếp tục thực hiện hợp đồng thế chấp số 0068/2022/HĐTC/BAC A1-LA ngày 21/04/2022; Phụ lục Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số PL01-0068/2022/HĐTC/BAC A1-LA ngày 11/09/2023, Hợp đồng thế chấp số 002-0068/2022/HĐTC/BAC A1-LA ngày 25/04/2022, Phụ lục Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số PL01-002-0068/2022/HĐTC/BAC A1-LA ngày 11/09/2023 để đảm bảo việc thi hành án.
-
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc ông Phạm Văn P, bà Lê Thị Trường A phải hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B số tiền 3.000.000 đồng.
Kể từ ngày Ngân hàng Thương mại Cổ phần B có đơn thi hành án cho đến khi thi hành án xong thì hàng tháng, ông Phạm Văn P, bà Lê Thị Trường A phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc ông Phạm Văn P bà Lê Thị Trường A phải chịu 112.928.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B số tiền 56.226.000 đồng tiền tam ứng án phí đã nộp theo biên lại thu số 0009304 ngày 14/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa.
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm các đương sự có mặt không đồng ý với bản án thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 01/4/2025.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Hương |
Bản án số 34/2025/DS-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA - TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 34/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA - TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Bắc Á - Phạm Văn P
