|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2025/DS-PT Ngày: 25/02/2025 V/v “Tranh chấp về thừa kế tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Duy
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hiệp
Ông Phan Minh Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Tiên là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Oanh – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 147/2024/TLPT-DS ngày 28 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp về thừa kế tài sản” do bản án dân sự sơ thẩm số: 254/2024/DS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 147/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trà Bích S, sinh năm: 1960, có mặt
- Bị đơn: Ông Trà Văn T, sinh năm: 1973, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trà Thị Linh P, sinh năm: 1946, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Trà Thị Huy Á, sinh năm: 1956, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Trà Thị Tuyết N, sinh năm: 1957, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Nơi cư trú: Số 1029/11/43 Trần Hưng Đạo, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
Nơi cư trú: số 669 QL1, KP3, P. L, TP ., TP . (Trường Đại học K - Luật TP .).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đoàn Ngọc M, sinh năm: 1941 (Theo văn bản ủy quyền số công chứng 000827 ngày 25/3/2024), vắng mặt.
Cùng nơi cư trú: KP T, thị trấn C, huyện P, Bình Định.
Nơi cư trú: Căn hộ A, lầu 6, Chung cư N, C, Phường B, Quận A, TP ..
2
Nơi cư trú: Lô I đường N, P. T, Tp ., tỉnh Bình Định.
- Bà Trà Thị Thanh N1, sinh năm: 1963
- Ông Trà Văn T1, sinh năm: 1964, có mặt
- Ông Trà Văn T2, sinh năm: 1968, vắng mặt
- Ông Trà Thanh T3, sinh năm: 1969
- Ông Trà Thanh T4, sinh năm: 1971, vắng mặt
Nơi cư trú: số B, Khu F, Ấp F, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trà Bích S, sinh năm: 1960, có mặt
Nơi cư trú: Số A T, TP ., tỉnh Bình Định.
(Theo văn bản ủy quyền số công chứng 3069 ngày 25/6/2024)
Nơi cư trú: Tổ B, KP5, P. Đ, Tp ., tỉnh Bình Định.
Nơi cư trú: Đ, thôn T, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đỗ Thị Hồng L, sinh năm: 1972, có mặt
Cùng nơi cư trú: Tổ G, KP2, P. Đ, Tp ., tỉnh Bình Định.
(Theo Hợp đồng ủy quyền số công chứng 002115 ngày 28/6/2024)
Nơi cư trú: số E đường A T, TP ., tỉnh Bình Định.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Trà Bích S; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trà Thị Linh P, bà Trà Thị Huy Á, bà Trà Thị Thanh N1, ông Trà Văn T1, ông Trà Văn T2, ông Trà Thanh T4.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/01/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trà Bích S trình bày:
Cha mẹ ông là cụ Trà Văn T5 (chết ngày 15/10/2007) và cụ Phan Thị C (chết ngày 26/3/2009). Sinh thời, cha mẹ ông sinh được 09 người con, gồm: Ông (Trà Bích S), bà Trà Thị Huy Á, bà Trà Thị Tuyết N, ông Trà Thanh T4, bà Trà Thị Thanh N1, ông Trà Văn T1, ông Trà Văn T2, ông Trà Thanh T3 và ông Trà Văn T. Ngoài ra, cha ông có 01 người con riêng với vợ trước (cụ Trần Thị H, chết ngày 20/7/1949) là bà Trà Thị Linh P. Tại thời điểm cụ H chết, bà P được 03 tuổi nên sau khi cụ T5 kết hôn với cụ C thì bà P đã ở chung với cha mẹ ông cho đến khi bà P lập gia đình. Trước khi chết, cha mẹ ông có tạo lập tài sản là nhà và đất tại số E (nay là số E) đường 1 Tháng 5, thuộc tổ 27, KP5, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định. Nguồn gốc nhà và đất: Năm 1998, cha mẹ ông nhận chuyển nhượng từ cụ Nguyễn Thị N2 (theo Hợp đồng mua bán nhà đã được công chứng tại Phòng C1 tỉnh Bình Định chứng nhận vào ngày 27/4/1998). Trước khi chết cha mẹ ông không để lại di chúc. Hiện nay, ông T muốn chiếm giữ nhà, đất và giấy tờ liên quan nên ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết chia thừa kế theo quy định pháp luật tài sản của cụ Trà Văn T5 và cụ Phan Thị C là nhà và đất tại số E
3
đường A T (nay là số E đường A Tháng 5) thuộc tổ 27, KP5, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định.
Về di chúc cụ C, tại phiên toà bà Trà Thị Tuyết N cung cấp bản di chúc viết tay được cho là do cụ C viết để lại tài sản cho ông T và đề nghị Toà chia thừa kế theo di chúc cụ C. Ông không đồng ý vì ông không biết chính xác di chúc này có phải do cụ C viết hay không, ông không nhớ chữ viết của cụ C. Tuy nhiên, ông không yêu cầu Toà án giám định chữ viết trong di chúc. Nếu di chúc này có thật thì di chúc này được viết tay, không có chữ ký, không có ai làm chứng nên không hợp pháp, vì vậy ông không công nhận di chúc này.
Đối với việc nhận thừa kế của bà Trà Thị Linh P, mặc dù bà là con riêng của cha ông với vợ trước nhưng thời gian chung sống mẹ ông chăm sóc bà P như con ruột. Các chị em ông thống nhất bà P là chị em cùng cha cùng mẹ.
Đối với việc nhận thừa kế của ông Trà Thanh T3, tại phiên toà ông Trà Thanh T4 có cung cấp tờ giấy viết tay ngày 06/3/1998 thể hiện ông T4 đã nhận của cụ T5, cụ C 15 chỉ vàng để xây nhà. Đây là số vàng ba mẹ ông cho riêng ông T3 nên không liên quan đến việc nhận di sản của ông T3.
Đối với việc nhận thừa kế của bà Trà Thị Tuyết N, tại Biên bản cuộc họp gia đình ngày 20/01/1990, cha mẹ ông đã quyết định từ bà N, không cho về nhà, không cho hưởng quyền lợi gì trong gia đình nhưng ông cũng thống nhất bà N cũng được hưởng thừa kế. Vì vậy, ông thống nhất hiện nay hàng thừa kế của cha mẹ ông gồm có 10 người như ông đã trình bày.
Về giá nhà và đất, theo Biên bản định giá tài sản ngày 03/7/2024 là 3.748.450.880 đồng. Ông tin tưởng Hội đồng định giá đã định nên không yêu cầu định giá lại. Ông đề nghị Tòa án hòa giải để thống nhất nhà và đất với giá 2.500.000.000 đồng. Các đồng thừa kế khác nhận nhà và đất với giá 2.500.000.000 đồng thì thối lại kỷ phần cho ông. Trường hợp các đồng thừa kế khác không nhận thì ông xin được nhận nhà và đất nói trên với giá 2.500.000.000 đồng và thối lại kỷ phần thừa kế cho các đồng thừa kế khác.
Theo ông được biết, hiện nay ông T đang cất giữ Số chứng nhận quyền sở hữu nhà số H ngày 22/4/1995. Ông đề nghị ông T phải giao lại Sổ chứng nhận quyền sở hữu nhà và đất nói trên. Trường hợp ông T cho rằng hiện nay ông không giữ Số chứng nhận quyền sở hữu nhà nói trên thì ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
* Tại Văn bản tự khai ngày 02/4/2024 và ngày 24/7/2024, bị đơn anh Trà Văn T trình bày:
Ông thống nhất lúc còn sống ba mẹ ông là cụ T5 và cụ C sinh được 09 người con và cụ T5 có 01 người con riêng như lời trình bày của ông S. Ông thống nhất nhà và đất tại số E (nay là số E) đường 1 Tháng 5, thuộc tổ 27, KP5, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định là tài sản chung của cụ T5 và cụ C. Ông thống nhất kết quả định giá tài sản ngày 03/7/2024. Ông yêu cầu Toà án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật, ông đề nghị nhận phần di sản thừa kế của cha mẹ để lại là “tiền mặt".
4
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trà Thị Linh P do ông Đoàn Ngọc M là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Bà P thống nhất như ý kiến của nguyên đơn ông Trà Bích S về hàng thừa kế, diện thừa kế và tài sản thừa kế. Bà P sống với cụ Phan Thị C từ lúc 03 tuổi cho đến khi lấy chồng. Tình cảm với cụ C như mẹ con ruột. Bà P thống nhất hiện nay những người hưởng thừa kế gồm 10 người như nguyên đơn đã trình bày. Về tài sản thừa kế, bà P không yêu cầu định giá lại. Bà P không có nhu cầu nhận nhà và đất nói trên. Bà P tự nguyện giao nhà và đất với giá 2.500.000.000 đồng cho ông Trà Bích S. Ông S có trách nhiệm thối lại kỷ phần thừa kế cho bà P.
- Bà Trà Thị Huy Á trình bày: Bà thống nhất như ý kiến của nguyên đơn ông Trà Bích S về hàng thừa kế, diện thừa kế và tài sản thừa kế. Về di chúc cụ C, bà không nhớ chữ viết này có phải của mẹ bà hay không. Bà cũng không yêu cầu Toà án giám định chữ viết trong di chúc. Tuy nhiên, một thời gian dài kể từ ngày mẹ bà mất, ông T đã cất giữ di chúc này đến nay mới gởi về cho bà N. Điều này chứng tỏ di chúc này không có gía trị pháp lý. Di chúc này viết tay, không có chữ ký của mẹ bà, không có chính quyền công chứng nên không hợp pháp. Vì vậy, bà yêu cầu Toà án không công nhận di chúc này. Bà thống nhất hiện nay những người hưởng thừa kế gồm 10 người như nguyên đơn đã trình bày. Về tài sản thừa kế, bà không yêu cầu định giá lại. Bà không có nhu cầu nhận nhà và đất nói trên. Bà tự nguyện giao nhà và đất với giá 2.500.000.000 đồng cho ông Trà Bích S. Ông S có trách nhiệm thối lại kỷ phần thừa kế cho bà.
- Bà Trà Thị Tuyết N trình bày: Bà thống nhất lúc còn sống ba mẹ bà là cụ T5 và cụ C sinh được 09 người con và cụ T5 có 01 người con riêng như lời trình bày của ông S. Bà thống nhất nhà và đất tại số E (nay là số E) đường 1 Tháng 5, thuộc tổ 27, KP5, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định là tài sản chung của cụ T5 và cụ C. Nhà và đất này đã được cấp giấy chứng nhận. Hiện nay, ai đang cất giữ Sổ chứng nhận quyền sở hữu nhà số 8688 ngày 22/4/1995, bà không biết. Trước khi chết, cha bà không để lại di chúc, mẹ bà có để lại di chúc giao nhà và đất nói trên cho ông Trà Văn T. Trước đây, ông T là người cất giữ di chúc này. Di chúc được viết trong một quyển vở học sinh. Ông T mới gởi về cho bà nên bà đã nộp bản photo cho Toà vào ngày 13/9/2024. Hiện nay, bản gốc di chúc bà đang cất giữ. Bà yêu cầu công nhận di chúc này.
Đối với việc nhận thừa kế của bà Trà Thị Linh P, bà không đồng ý. Bà P là con riêng của cha bà với vợ trước nên chỉ được hưởng thừa kế của cha bà, không được hưởng thừ kế của mẹ bà. Mặc dù, bà P chung sống với mẹ bà từ lúc bà P khoảng 3 - 4 tuổi, mẹ bà chăm sóc bà P rất khổ cực nhưng bà P không biết điều, thường xuyên gây mâu thuẫn với mẹ bà.
Bà không đồng ý ông T3 được nhận thừa kế vì ông T3 đã viết giấy tay ngày 06/3/1998 thể hiện ông T3 đã nhận của cụ T5, cụ C 15 chỉ vàng để xây nhà. Ông T3 đã nhận đủ phần của mình.
Đối với việc cha mẹ bà từ mặt bà tại Biên bản cuộc họp gia đình ngày 20/01/1990, đây là âm mưu của ông S. Ông S tự viết và đưa mọi người trong gia đình ký vào Biên bản.
5
Bà thống nhất kết quả định giá tài sản ngày 03/7/2024. Bà yêu cầu Toà án giải quyết chia thừa kế theo quy định pháp luật phần tài sản của cha bà, chia theo di chúc của mẹ bà. Bà đề nghị nhận phần di sản thừa kế của cha để lại là “tiền mặt” theo giá mà Hội đồng định giá đã định ngày 03/7/2024.
- Bà Trà Thị Thanh N1 do ông Trà Bích S là người đại diện theo ủy quyền: Thống nhất như ý kiến của ông đã trình bày. Bà N1 không có nhu cầu nhận nhà và đất nói trên nên ai có nhu cầu nhận nhà và đất với giá 2.500.000.000 đồng thì thối lại kỷ phần cho bà N1.
- Ông Trà Văn T1, ông Trà Văn T2 trình bày: Ông thống nhất như ý kiến của nguyên đơn ông Trà Bích S về hàng thừa kế, diện thừa kế và tài sản thừa kế. Đối với di chúc của cụ C, quyền hưởng thừa kế của bà P, bà N và ông T3, ông thống nhất lời trình bày của ông S và bà Á. Ông thống nhất hiện nay những người hưởng thừa kế gồm 10 người như nguyên đơn đã trình bày. Về tài sản thừa kế, ông không yêu cầu định giá lại. Ông không có nhu cầu nhận nhà và đất nói trên. Ông tự nguyện giao nhà và đất với giá 2.500.000.000 đồng cho ông Trà Bích S. Ông S có trách nhiệm thối lại kỷ phần thừa kế cho ông.
- Ông Trà Thanh T3 do bà Đỗ Thị Hồng L là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Ông T3 thống nhất như ý kiến của nguyên đơn ông Trà Bích S về hàng thừa kế, diện thừa kế và tài sản thừa kế. Đối với di chúc của cụ C, quyền hưởng thừa kế của bà P và bà N, ông T3 thống nhất lời trình bày của ông S và bà Á. Về giấy viết tay ngày 06/3/1998, ông T3 đã nhận của cụ T5, cụ C 15 chỉ vàng để xây nhà. Đây là số vàng cụ T5 và cụ C cho khi còn sống. Ông T3 thống nhất hiện nay những người hưởng thừa kế gồm 10 người như nguyên đơn đã trình bày. Về tài sản thừa kế, ông T3 không yêu cầu định giá lại. Ông T3 không có nhu cầu nhận nhà và đất nói trên. Ông T3 tự nguyện giao nhà và đất với giá 2.500.000.000 đồng cho ông Trà Bích S. Ông S có trách nhiệm thối lại kỷ phần thừa kế cho ông T3.
- Ông Trà Thanh T4 trình bày: Ông thống nhất về hàng thừa kế, diện thừa kế và tài sản thừa kế như bà N đã trình bày. Bà P là con riêng của cha ông với vợ trước nên chỉ được hưởng thừa kế của cha ông, không được hưởng thừ kế của mẹ ông. Ông T3 đã nhận đủ phần thừa kế thể hiện tại giấy viết tay ngày 06/3/1998 ông T3 đã nhận của cụ T5, cụ C 15 chỉ vàng để xây nhà nên không được nhận nữa. Ông không đồng ý theo Biên bản cuộc họp gia đình ngày 20/01/1990, bà N vẫn được nhận thừa kế do cha ông để lại.
Ông thống nhất kết quả định giá tài sản ngày 03/7/2024. Ông yêu cầu Toà án giải quyết chia thừa kế theo quy định pháp luật phần tài sản của cha ông, chia theo di chúc của mẹ ông. Ông đề nghị nhận phần di sản thừa kế của cha để lại là “tiền mặt” theo giá mà Hội đồng định giá đã định ngày 03/7/2024.
Hiện nay ai đang cất giữ Số chứng nhận quyền sở hữu nhà số H ngày 22/4/1995 ông không biết.
Bản án dân sự sơ thẩm số: 254/2024/DS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đã quyết định:
6
Căn cứ khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 157; Điều 158; Điều 165; Điều 166; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 633, Điều 552, Điều 653 và Điều 655 của Bộ luật Dân sự năm 2005;
Căn cứ khoản 1 Điều 611, Điều 612, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 654, Điều 660 và điểm d khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Án lệ số 26/2018/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2018.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trà Bích S về việc yêu cầu chia thừa kế tài sản của cụ Trà Văn T5 và cụ Phan Thị C.
- Xác định tài sản thừa kế của cụ Trà Văn T5 và cụ Phan Thị C là nhà và đất tại số E đường A T (nay là số E đường A Tháng 5) thuộc tổ 27, KP5, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định. Trị giá tài sản thừa kế là 3.748.450.880 đồng.
- Xác định di chúc của cụ Phan Thị C không hợp pháp.
- Xác định những người được hưởng thừa kế theo pháp luật của cụ Trà Văn T5 và cụ Phan Thị C là các ông bà: Trà Thị Linh P, Trà Bích S, Trà Thị Huy Á, Trà Thị Tuyết N, Trà Thanh T4, Trà Thị Thanh N1, Trà Văn T1, Trà Văn T2, Trà Thanh T3 và Trà Văn T.
- Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự ông bà: Trà Thị Linh P, Trà Bích S, Trà Thị Huy Á, Trà Thị Thanh N1, Trà Văn T1, Trà Văn T2 và Trà Thanh T3 giao nhà và đất thừa kế nói trên cho ông Trà Bích S và nhận kỷ phần thừa kế mỗi người 250.000.000 đồng.
- Giao cho ông Trà Bích S được quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đối với nhà và đất tại số E đường A T (nay là số E đường A Tháng 5) thuộc tổ 27, KP5, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định (đã được cấp sổ chứng nhận quyền sở hữu nhà số 8688/CNSH cấp ngày 28/4/1995 đứng tên chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị N2 và Hợp đồng mua bán nhà giữa bà Nguyễn Thị N2 và cụ Trà Văn T5, cụ Phan Thị C đã được Phòng C1 tỉnh Bình Định chứng nhận cùng ngày).
Ông Trà Bích S có nghĩa vụ thanh toán cho các ông bà: Trà Thị Linh Phương, Trà Bích S, Trà Thị Huy Á, Trà Thị Thanh N1, Trà Văn T1, Trà Văn T2 và Trà Thanh T3 mỗi người 250.000.000 đồng.
Ông Trà Bích S có nghĩa vụ thanh toán cho các ông bà Trà Thị Tuyết N, Trà Thanh T4 và Trà Văn T mỗi người 374.845.000 đồng.
7
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, nguyên đơn ông Trà Bích S; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trà Thị Linh P, bà Trà Thị Huy Á, bà Trà Thị Thanh N1, ông Trà Văn T1, ông Trà Văn T2, ông Trà Thanh T3 kháng cáo với nội dung:
- Yêu cầu công nhận sự tự nguyện của 07 đồng thừa kế gồm: Ông Trà Bích S, bà Trà Thị Linh P, bà Trà Thị Huy Á, bà Trà Thị Thanh N1, ông Trà Văn T1, ông Trà Văn T2 và ông Trà Thanh T3 về việc tài sản thừa kế có giá trị 2.500.000.000đ;
- Không đồng ý giao cho ông Trà Bích S được quyền sở hữu tài sản của cha mẹ để lại mà yêu cầu giao cho một trong số 10 đồng thừa kế có nhu cầu được quyền sở hữu tài sản của cha mẹ để lại và đồng ý thanh toán lại cho các đồng thừa kế theo giá trị 2.500.000.000đ. Trường hợp các đồng thừa kế không có nhu cầu nhận tài sản thừa kế thì yêu cầu bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật;
- Yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật cho 10 người cùng hàng thừa kế gồm: Ông Trà Bích S, bà Trà Thị Tuyết N, bà Trà Thị Linh P, bà Trà Thị Huy Á, bà Trà Thị Thanh N1, ông Trà Văn T1, ông Trà Văn T2, ông Trà Thanh T3, Trà Thanh T4 và ông Trà Thanh T6 được hưởng phần di sản thừa kế bằng nhau.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng; Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của ông Trà Bích S, bà Trà Thị Linh P, bà Trà Thị Huy Á, bà Trà Thị Thanh N1, ông Trà Văn T1, ông Trà Thanh T3
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trà Văn T2 có đơn kháng cáo và đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do thì coi như từ bỏ việc kháng cáo. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử đính chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông Trà Văn T2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Kháng cáo của nguyên đơn ông Trà Bích S; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trà Thị Linh P, bà Trà Thị Huy Á, bà Trà Thị Thanh N1, ông Trà Văn T1, ông Trà Văn T2, ông Trà Thanh T3 trong thời hạn nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
8
[1.2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trà Văn T2 có đơn kháng cáo và đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông Trà Văn T2. Số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ ông T2 đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000620 ngày 22/10/2024 được sung vào công quỹ nhà nước.
[2] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Trà Bích S; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trà Thị Linh P, bà Trà Thị Huy Á, bà Trà Thị Thanh N1, ông Trà Văn T1, ông Trà Thanh T3, thấy rằng:
[2.1] Vợ chồng cụ Trà Văn T5 (chết ngày 15/10/2007) không để lại di chúc, cụ Phan Thị C (chết ngày 26/3/2009) có để lại di chúc nhưng di chúc không hợp pháp theo quy định tại Điều 552, Điều 653 và Điều 655 BLDS 2005.
Ngày 27/4/1998, cụ Trà Văn T5 và cụ Phan Thị C nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị N2 nhà và đất tại số E đường A T (nay là số E đường A Tháng 5) thuộc tổ 27, KP5, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định đã được cấp số chứng nhận quyền sở hữu nhà số 8688/CNSH cấp ngày 28/4/1995 đứng tên chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị N2. Hợp đồng mua bán nhà đã được Phòng C1 tỉnh Bình Định chứng nhận cùng ngày. Sau khi nhận chuyển nhượng nhà và đất nói trên, các cụ quản lý sử dụng từ đó cho đến ngày chết mà không chỉnh lý biến động, sang tên chủ sở hữu. Do đó xác định quyền sử dụng đất và nhà gắn liền với đất nói trên là tài sản của cụ Trà Văn T5 và cụ Phan Thị C để lại được chia thừa kế theo pháp luật cho các đồng thừa kế thứ nhất của cụ T5, cụ C là 10 người con gồm: Bà Trà Thị Linh P, ông Trà Bích S, bà Trà Thị Huy Á, bà Trà Thị Tuyết N, ông Trà Thanh T4, bà Trà Thị Thanh N1, ông Trà Văn T1, ông Trà Văn T2, ông Trà Thanh T3 và ông Trà Văn T. Về di sản thừa kế và hàng thừa kế các bên đương sự thống nhất và không có tranh chấp, các bên chỉ tranh chấp về trị giá di sản thừa kế và người nhận di sản thừa kế.
[2.2] Theo biên bản định giá tài sản ngày 03/7/2024 thì nhà và đất tại số E đường A T (nay là số E đường A Tháng 5) thuộc tổ 27, KP5, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định trị giá 3.748.450.880 đồng. Sau khi định giá tài sản, các bên đương sự không thống nhất về trị giá nhà và đất nói trên. Bà Trà Thị Linh P, ông Trà Bích S, bà Trà Thị Huy Á, bà Trà Thị Thanh N1, ông Trà Văn T1, ông Trà Văn T2 và ông Trà Thanh T3 cho rằng Hội đồng định giá tài sản thừa kế với giá 3.748.450.880 đồng là cao so với thị trường bất động sản hiện nay và tự thỏa thuận với nhau tài sản thừa kế cụ T5, cụ C để lại có giá là 2.500.000.000 đồng, cùng thống nhất giao hiện vật cho ông Trà Bích S được quyền sở hữu, quản lý, sử dụng; Còn bà Trà Thị Tuyết N, ông Trà Thanh T4 và ông Trà Văn T không đồng ý với ý giá 2.500.000.000 đồng mà các ông bà Trà Thị Linh P, Trà Bích S, Trà Thị Huy Á, Trà Thị Thanh N1, Trà Văn T1, Trà Văn T2 và Trà Thanh T3 đưa ra mà có ý kiến thống nhất với giá trị Hội đồng định giá đã định là 3.748.450.880 đồng. Các ông, bà không có nhu cầu nhận hiện vật mà đề nghị chia bằng giá trị theo giá Hội đồng định giá đã định.
[2.3] Do các đương sự không thống nhất được với nhau về giá trị tài sản nhưng không có ai yêu cầu định giá lại. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Trà Thị Linh P, ông Trà Bích S, bà Trà Thị Huy Á, bà Trà Thị Thanh N1, ông Trà Văn T1, ông Trà Văn T2 và ông Trà Thanh T3 tự nguyện giao tài sản thừa kế cụ T5, cụ C để lại cho ông Trà Bích S với giá 2.500.000.000 đồng và ông
9
S cũng đồng ý nhận nhà và đất nói trên với giá 2.500.000.000 đồng và thanh toán lại kỷ phần thừa kế cho các đồng thừa kế khác. Đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các bên, nên Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự ông bà: Trà Thị Linh P, Trà Bích S, Trà Thị Huy Á, Trà Thị Thanh N1, Trà Văn T1, Trà Văn T2 và Trà Thanh T3 giao nhà và đất thừa kế nói trên cho ông Trà Bích S. Ông S phải có nghĩa vụ thanh toán lại giá trị cho các ông bà: Trà Thị Linh P, Trà Bích S, Trà Thị Huy Á, Trà Thị Thanh N1, Trà Văn T1, Trà Văn T2, Trà Thanh T3 mỗi người 250.000.000 đồng. Riêng đối với bà Trà Thị Tuyết N, Trà Thanh T4 và Trà Văn T chỉ đồng ý trị giá tài sản thừa kế theo Hội đồng định giá đã định là 3.748.450.880đ, ông Trà Bích S cho rằng giá trị tài sản mà Hội đồng định giá đã định là cao nhưng không yêu cầu định giá lại nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Trà Bích S phải thanh toán cho các đồng thừa kế gồm Trà Thị Tuyết N, Trà Thanh T4 và Trà Văn T mỗi người được nhận bằng một phần mười giá trị tài sản với số tiền 374.845.000 đồng (tròn số) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự kháng cáo nhưng không yêu cầu định giá lại và cũng không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì mới để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trà Bích S; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trà Thị Linh P, bà Trà Thị Huy Á, bà Trà Thị Thanh N1, ông Trà Văn T1, ông Trà Văn T2, ông Trà Thanh T3; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
[2.4] Về kháng cáo yêu cầu bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật: Do các đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc bán đấu giá tài sản để phân chia. Việc bán đấu giá tài sản thuộc thẩm quyền của cơ quan thi hành án, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên HĐXX không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của đương sự. Các bên đương sự có quyền thỏa thuận với nhau về việc xử lý tài sản thừa kế trong giai đoạn thi hành án.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đề nghị đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông Trà Văn T2. Không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Án phí dân sự phúc thẩm:
[6.1] Do kháng cáo của nguyên đơn ông Trà Bích S; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trà Thị Linh P, bà Trà Thị Huy Á, bà Trà Thị Thanh N1, ông Trà Văn T1, ông Trà Thanh T3 không được chấp nhận, nên những người này phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, bà Trà Thị Linh P, ông Trà Bích S, bà Trà Thị Huy Á, bà Trà Thị Thanh N1 và ông Trà Văn T1 là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
10
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 296, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 157; Điều 158; Điều 165; Điều 166; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 633, Điều 552, Điều 653 và Điều 655 của Bộ luật Dân sự năm 2005;
Căn cứ khoản 1 Điều 611, Điều 612, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 654, Điều 660 và điểm d khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Án lệ số 26/2018/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2018.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông Trà Văn T2. Không chấp nhận kháng cáo của ông Trà Bích S, bà Trà Thị Linh P, bà Trà Thị Huy Á, bà Trà Thị Thanh N1, ông Trà Văn T1, ông Trà Thanh T3. Giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trà Bích S về việc yêu cầu chia thừa kế tài sản của cụ Trà Văn T5 và cụ Phan Thị C.
- Xác định tài sản thừa kế của cụ Trà Văn T5 và cụ Phan Thị C là nhà và đất tại số E đường A T (nay là số E đường A Tháng 5) thuộc tổ 27, KP5, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định. Trị giá tài sản thừa kế là 3.748.450.880 đồng.
- Xác định di chúc của cụ Phan Thị C không hợp pháp.
- Xác định những người được hưởng thừa kế theo pháp luật của cụ Trà Văn T5 và cụ Phan Thị C là các ông bà: Trà Thị Linh P, Trà Bích S, Trà Thị Huy Á, Trà Thị Tuyết N, Trà Thanh T4, Trà Thị Thanh N1, Trà Văn T1, Trà Văn T2, Trà Thanh T3 và Trà Văn T.
- Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự ông bà: Trà Thị Linh P, Trà Bích S, Trà Thị Huy Á, Trà Thị Thanh N1, Trà Văn T1, Trà Văn T2 và Trà Thanh T3 giao nhà và đất thừa kế nói trên cho ông Trà Bích S và nhận kỷ phần thừa kế mỗi người 250.000.000 đồng.
- Giao cho ông Trà Bích S được quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đối với nhà và đất tại số E đường A T (nay là số E đường A Tháng 5) thuộc tổ 27, KP5, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định (đã được cấp sổ chứng nhận quyền sở hữu nhà số 8688/CNSH cấp ngày 28/4/1995 đứng tên chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị N2 và
11
Hợp đồng mua bán nhà giữa bà Nguyễn Thị N2 và cụ Trà Văn T5, cụ Phan Thị C đã được Phòng C1 tỉnh Bình Định chứng nhận cùng ngày).
Ông Trà Bích S có nghĩa vụ thanh toán cho các ông bà: Trà Thị Linh Phương, Trà Bích S, Trà Thị Huy Á, Trà Thị Thanh N1, Trà Văn T1, Trà Văn T2 và Trà Thanh T3 mỗi người 250.000.000 đồng.
Ông Trà Bích S có nghĩa vụ thanh toán cho các ông bà Trà Thị Tuyết N, Trà Thanh T4 và Trà Văn T mỗi người 374.845.000 đồng.
- Về chi phí tố tụng: Các ông bà Trà Thị Linh P, Trà Thị Huy Á, Trà Thị Tuyết N, Trà Thanh T4, Trà Thị Thanh N1, Trà Văn T1, Trà Văn T2, Trà Thanh T3 và Trà Văn T có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Trà Bích S số tiền xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạt và định giá tài sản, mỗi người là 1.493.700 đồng
- Về án phí dân sự:
- Án phí sơ thẩm:
- Án phí phúc thẩm:
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357 khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự,người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án,quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định điều 30 luật thi hành án dân sự.
Các ông Trà Văn T2 và Trà Thanh T3 mỗi người phải chịu 12.500.000 đồng;
Các ông Trà Thanh T4 và Trà Văn T mỗi người phải chịu 18.742.000 đồng
Các ông bà Trà Thị Linh P, Trà Bích S, Trà Thị Huy Á, Trà Thị Tuyết N, Trà Thị Thanh N1 và Trà Văn T1 không phải chịu án phí vì người cao tuổi.
Ông Trà Thanh T3 phải chịu 300.000đ, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000619 ngày 22/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
Bà Trà Thị Linh P, ông Trà Bích S, bà Trà Thị Huy Á, bà Trà Thị Thanh N1 và ông Trà Văn T1 là người cao tuổi nên được miễn án phí.
Sung vào công quỹ nhà nước số tiền tạm ứng án phí 300.000đ ông Trà Văn T2 đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000620 ngày 22/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
12
11. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Phan Minh Dũng | |
| Nguyễn Văn Hiệp |
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Định; - TAND thành phố Quy Nhơn; - Chi cục THADS thành phố Quy Nhơn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Văn Duy |
Bản án số 34/2025/DS-PT ngày 25/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 34/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: dspt
