|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2025/DS-PT Ngày: 06/3/2025 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Dư Thành Trung
Các Thẩm phán:
Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc
Bà Nguyễn Thị Bích Thảo.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà Chi- Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Anh- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 213/2024/TLPT-DS ngày 15/10/2024 về tranh chấp “Quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2024/DS-ST ngày 19/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 561/2024/QĐ-PT ngày 16/12/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐPT-HPT ngày 07/01/2025; Thông báo mở lại phiên tòa số 31/TB-TA ngày 12/02/2025; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở lại phiên tòa số 36/TB-TA ngày 20/02/2025; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Thôn A, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.
Bị đơn: Ông Lê Quang H, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Thôn A, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị L, sinh năm 1995.
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1983.
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1991 và ông Đàm Minh V, sinh năm 1987.
- Ủy ban nhân dân huyện B.
- Văn phòng công chứng Trịnh Tuấn A.
Địa chỉ: Thôn A, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn A, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.
Địa chỉ: Thôn H, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; vắng mặt.
Địa chỉ: Số B N, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Hoài M, chức vụ: Chủ tịch.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Văn T1, chức vụ: Phó Chủ tịch; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Số C đường T, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Tuấn A, chức vụ: Trưởng văn phòng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người kháng cáo: Ông Lê Quang H là bị đơn và bà Nguyễn Thị N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 08/7/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Phạm Văn Đ trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 542, tờ bản đồ 25, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng do ông cùng vợ bà Phạm Thị L nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị T và ông Đàm Minh V vào năm 2020, về giá chuyển nhượng thì ông không nhớ, ông đã trả đủ tiền cho bà T và ông V, hai bên đã thực hiện thủ tục chuyển nhượng đất theo quy định của pháp luật và bà T, ông V đã giao đất cho ông sử dụng ổn định. Sau đó gia đình ông xuống Đạ Tẻh một thời gian, khi về ngày 20/10/2020 thì phát hiện ông H dựng nhà tạm trên đất, đã lấn chiếm diện tích 23,5m². Nay ông Đ khởi kiện yêu cầu buộc vợ chồng ông H bà N phải trả lại diện tích đất lấn chiếm là 23,5m².
Theo Hoạ đồ đo đạc ngày 08/8/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện B thì diện tích đất lấn chiếm là 15m² nên ông thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể yêu cầu buộc vợ chồng ông H phải trả lại diện tích đất lấn chiếm là 15m² và tháo dỡ công trình xây dựng trên diện tích đất lấn chiếm. Ông Đ không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện phản tố của vợ chồng ông H, bà N.
* Theo đơn khởi kiện phản tố ngày 14/8/2023 và quá trình giải quyết vụ án ông Lê Quang H trình bày:
Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp do vợ chồng ông nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn T2, bà Ka N1 vào năm 2019, hai bên có viết giấy tay với nhau, đất chưa có sổ, ông đã trả đủ tiền và ông T2, bà Ka N1 đã giao đất cho ông sử dụng có ông Trần S và bà Mai Thị L1 là chủ đất cũ (thửa đất 542) làm chứng. Năm 2019, ông bắt đầu dựng nhà tạm trên đất và đến năm 2020 thì xong, khi đang dựng nhà tạm gần xong thì ông Đ xuống nói ông dựng nhà trên đất của ông Đ, nhưng do đất ông nhận chuyển nhượng của người khác nên ông vẫn dựng nhà bình thường. Do vậy, ông Đ khởi kiện yêu cầu buộc vợ chồng ông phải trả lại diện tích đất lấn chiếm là 15m² và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên diện tích đất lấn chiếm thì vợ chồng ông không đồng ý. Nay ông H khởi kiện phản tố yêu cầu huỷ diện tích 15m² thuộc một phần thửa đất 542, tờ bản đồ 25, xã L, huyện B đã được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, số hiệu số CC 335323 ngày 25/5/2016 cho bà Nguyễn Thị T và ông Đàm Minh V. Đồng thời yêu cầu huỷ một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với diện tích 15m² (nay đang tranh chấp) giữa bà T, ông V với vợ chồng ông Phạm Văn Đ, bà Phạm Thị L được Văn phòng C công chứng ngày 29/9/2020.
Ông Đ không thống nhất với H1 đồ đo đạc ngày 08/8/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện B, mặc dù được Toà án giải thích về quyền và nghĩa vụ theo của pháp luật nhưng ông không yêu cầu đo vẽ lại diện tích đất tranh chấp, đề nghị Toà án căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện B cấp ngày 22/10/2012 cho ông K và bà Ka P, số sổ BL 113463 để giải quyết vụ án.
Đối với phần đất đang tranh chấp do vợ chồng ông H nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn T2, bà Ka N1 thì không yêu cầu giải quyết, nếu có tranh chấp sẽ tự thoả thuận với ông Nguyễn Văn T2, bà Ka N1.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Phạm Thị L trình bày: Thống nhất với nội dung trình bày của ông Đ nêu trên.
Bà Nguyễn Thị N trình bày: Thống nhất với nội dung trình bày của ông H nêu trên.
UBND huyện B trình bày: UBND huyện B (UBND huyện) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 542, 462, 643, tờ bản đồ 25, xã L, huyện B là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Từ năm 2012 đến nay UBND huyện không cấp phép xây dựng cho thửa đất nào đứng tên ông Lê Quang H tại xã L, huyện B, đề nghị Tòa án căn cứ vào chứng cứ hồ sơ vụ việc để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Văn phòng C trình bày: Khi công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T, ông V với vợ chồng ông Phạm Văn Đ, bà Phạm Thị L thì các bên xuất trình đầy đủ và chính xác các giấy tờ có liên quan, tại thời điểm công chứng các bên giao kết văn bản thoả thuận hoàn toàn tự nguyện, có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, mục đích nội dung của văn bản thoả thuận không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Quá trình kiểm tra thông tin trên trang thông tin về công chứng của Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng và thông tin về giao dịch của Văn phòng công chứng Trịnh Tuấn A tại thời điểm đăng ký văn bản thoả thuận thì tài sản không có tranh chấp, không bị kê biên của cơ quan thi hành án, không bị ngăn chặn của cơ quan có thẩm quyền. Các bên cam đoan đã xem xét, tìm hiểu kỹ tình trạng pháp lý cũng như thực tế và xác nhận đối tượng văn bản thoả thuận là có thật và không đề nghị công chứng viên xác minh hoặc yêu cầu giám định. Ngay sau khi xem xét hồ sơ và thực hiện các thủ tục có liên quan Văn phòng công chứng Trịnh Tuấn A đã tiến hành công chứng hợp đồng chuyển nhượng số 2447 quyển 03/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/9/2020 theo đúng trình tự và quy định của pháp luật.
Bà Nguyễn Thị T trình bày: Nguồn gốc thửa đất số 542, tờ bản đồ 25, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng do bà nhận chuyển nhượng của vợ chồng bà Mai Thị L1 (xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng) vào năm 2020. Sau khi nhận chuyển nhượng khoảng hai tháng thì chuyển nhượng lại cho vợ chồng ông Đ, bà L1. Về giá chuyển nhượng do đã lâu nên không nhớ nhưng đã nhận đủ tiền chuyển nhượng, đã giao đất, chỉ mốc giới cho ông Đ, bà L1 sử dụng có ông L2 (địa chính xã) đo đạc và hai bên đã thực hiện thủ tục chuyển nhượng đất theo quy định của pháp luật. Nay giữa ông Đ và ông H tranh chấp, bà không đồng ý với yêu cầu phản tố của ông H, bà N.
Ông Đàm Minh V vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2024/DS-ST ngày 19/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng đã xử:
“1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn Đ đối với bị đơn ông Lê Quang H về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Buộc vợ chồng ông Lê Quang H bà Nguyễn Thị N phải trả lại diện tích 15m² thuộc một phần thửa đất 542, tờ bản đồ 25, xã L, huyện B và tháo dỡ công trình xây dựng trên đất (gồm: một phần căn nhà tạm, cột sắt, xà gồ sắt, chiều cao 4,5m và 4,2m, vách thưng tôn, nền đổ đá mi, mái lợp tôn, có kích thước các cạnh 05m x 5,5m và 02 x 04m để trả lại cho ông Phạm Văn Đ (Kèm theo kết quả đo ngày 14/9/2023 được thay thế hoạ đồ ngày 08/8/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B).
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quang H, bà Nguyễn Thị N về yêu cầu huỷ diện tích 15m² thuộc một phần thửa đất 542, tờ bản đồ 25, xã L, huyện B đã được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, số hiệu số CC 335323 ngày 25/5/2016 cho bà Nguyễn Thị T và ông Đàm Minh V và không chấp nhận yêu cầu huỷ một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích 15m² thuộc một phần thửa đất 542, tờ bản đồ 25, xã L, huyện B giữa bà T, ông V với vợ chồng ông Phạm Văn Đ, bà Phạm Thị L được Văn phòng C1 ông công chứng ngày 29/9/2020”.
Ngày 24/7/2024, bà Nguyễn Thị N kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố của bà N về việc hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn Đ.
Ngày 01/8/2024, ông Lê Quang H kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn Đ.
Tại phiên tòa,
Ông Lê Quang H và bà Nguyễn Thị N vẫn giữ nguyên kháng cáo.
Ông Phạm Văn Đ không đồng ý với kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; đề nghị giải quyết như bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa hôm nay: đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông H bà N. Căn cứ vào khoản 1, Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 57/2024/DS-ST ngày 19/7/2024 của TAND huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp giữa các bên đã được Tòa án cấp sơ thẩm xác định theo đúng quy định của pháp luật; đơn kháng cáo của vợ chồng Lê Quang H bà Nguyễn Thị N; thủ tục kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn Lê Quang H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N thì thấy rằng:
[2.1] Phần diện tích 15m² đang tranh chấp thuộc một phần thửa đất 542, tờ bản đồ 25, xã L, huyện B được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, số hiệu số CC 335323 ngày 25/5/2016 cho ông Nguyễn Đình D và bà Nguyễn Thị Đ1; sau đó, ông D, bà Đ1 chuyển nhượng cho ông Hoàng Minh D1 và bà Nguyễn Thị Thu T3 vào ngày 30/11/2017; ông D1 và bà T3 chuyển nhượng cho ông Trần Văn T4 và Mai Thị L1 vào ngày 24/4/2018; ông T4 và bà L1 chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị T vào ngày 15/7/2020; bà Nguyễn Thị T chuyển nhượng cho ông Phạm Văn Đ ngày 29/9/2020. Khi bà T chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Đ, hai bên có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C cùng ngày ngày 29/9/2020 và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B xác nhận biến động sang tên cho ông Phạm Văn Đ vào ngày 07/10/2020 theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật.
Liền kề với thửa 542 là thửa đất 463 do vợ chồng ông Lê Quang H sử dụng, ông H thừa nhận khi đang dựng nhà tạm trên một phần thửa đất 542 thì ông Đ có tranh chấp nhưng cho rằng đất của mình nhận chuyển nhượng của người khác nên ông H vẫn tiếp tục xây dựng.
[2.2] Theo kết quả đo đạc ngày 14/9/2023 được thay thế hoạ đồ ngày 08/8/2022 do Chi nhánh Văn phòng đất đai huyện B cung cấp thể hiện: Phần ranh giới do ông H xác định có 15m², thuộc một phần thửa đất 542, tờ bản đồ 25, xã L, huyện B.
[2.3] Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 17/3/2022 của Tòa án cấp sơ thẩm thì trên phần diện tích đất đang tranh chấp là một phần căn nhà tạm, cột sắt, xà gồ sắt, chiều cao 4,5m và 4,2m, vách thưng tôn, nền đổ đá mi, mái lợp tôn, có kích thước các cạnh 05m x 5,5m và 02 x 04m.
[2.4] Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 16/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng với sự có mặt của bà Ka N1 (người mà ông H trình bày đã bán đất cho ông) trình bày: “...Vị trí đất ông H và ông Đ tranh chấp trước đấy có 01 con suối nhân tạo do bên thi công cầu đường đào (không phải suối tự nhiên), nay suối đã bị lấp. Bà N1 chỉ bán đất cho ông H bà N phần đất từ mép suối trở ra phía sau chứ không phải giáp ranh đất của nhà ông Đ bà L1”.
[2.5] Theo Công văn số 1182/UBND ngày 26/4/2023 của UBND huyện B thì từ năm 2012 đến nay UBND huyện B không cấp phép xây dựng cho thửa đất nào đứng tên ông Lê Quang H tại xã L, huyện B và Giấy sang nhượng đất viết tay ngày 31/3/2019 giữa ông Lê Quang H và bà Ka N1, ông Nguyễn Văn T2 không thể hiện thông tin thửa đất nên ông H cho rằng không lấn chiếm đất của ông Đ là không có căn cứ.
[2.6] Ông H cho rằng phần diện tích đất tranh chấp nêu trên do ông nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn T2, bà Ka N1 bằng giấy viết tay vào năm 2019, trong khi đó phần diện tích đất này do ông Đ nhận chuyển nhượng hợp pháp của bà Nguyễn Thị T như đã phân tích trên.
[2.7] Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông H đã lấn chiếm 15m² thuộc một phần thửa đất 542, tờ bản đồ 25, xã L, huyện B của vợ chồng ông Đ và hiện nay vợ chồng ông H, bà N đang sử dụng. Nay ông Đ yêu cầu nên buộc vợ chồng ông H, bà N phải trả lại diện tích 15m² đã lấn chiếm thuộc một phần thửa 542, tờ bản đồ 25, xã L, huyện B và tháo dỡ công trình xây dựng trên diện tích đất lấn chiếm để trả lại cho vợ chồng ông Đ là có cơ sở và đúng pháp luật.
[3] Vợ chồng ông H, bà N kháng cáo nhưng không đưa ra được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào mới để chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ và hợp pháp nên không có căn cứ để chấp nhận; cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm như đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Lâm Đồng là phù hợp.
[4] Về chi phí tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ hết tổng số tiền là 3.416.000 đồng. Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng này (bị đơn ông Lê Quang H đã nộp đủ và quyết toán xong nên phần quyết định của bản án không đề cập đến).
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Lê Quang H, bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Quang H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn Đ đối với bị đơn ông Lê Quang H về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Buộc vợ chồng ông Lê Quang H bà Nguyễn Thị N phải trả lại diện tích 15m² thuộc một phần thửa đất 542, tờ bản đồ 25, xã L, huyện B và tháo dỡ công trình xây dựng trên đất (gồm: một phần căn nhà tạm, cột sắt, xà gồ sắt, chiều cao 4,5m và 4,2m, vách thưng tôn, nền đổ đá mi, mái lợp tôn, có kích thước các cạnh 05m x 5,5m và 02 x 04m để trả lại cho ông Phạm Văn Đ (Kèm theo kết quả đo ngày 14/9/2023 được thay thế hoạ đồ ngày 08/8/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B).
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quang H, bà Nguyễn Thị N về yêu cầu huỷ diện tích 15m² thuộc một phần thửa đất 542, tờ bản đồ 25, xã L, huyện B đã được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, số hiệu số CC 335323 ngày 25/5/2016 cho bà Nguyễn Thị T và ông Đàm Minh V và không chấp nhận yêu cầu huỷ một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích 15m² thuộc một phần thửa đất 542, tờ bản đồ 25, xã L, huyện B giữa bà T, ông V với vợ chồng ông Phạm Văn Đ, bà Phạm Thị L được Văn phòng C công chứng ngày 29/9/2020.
2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Lê Quang H phải thanh toán lại cho ông Phạm Văn Đ số tiền là 9.539.000 đồng chi phí đo đạc; xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản.
3. Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
+ Buộc ông Lê Quang H, bà Nguyễn Thị N phải chịu 600.000 đồng (300.000 đồng + 300.000 đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, được trừ vào số tiền 600.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0013019 ngày 14/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
+ Ông Phạm Văn Định Đ2 nhận lại số tiền 2.350.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004183 ngày 26/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Quang H, bà Nguyễn Thị N mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007161 ngày 12/8/2024 và số 0007162 ngày 12/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
4. Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Dư Thành Trung |
Bản án số 34/2025/DS-PT ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 34/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Đ khởi kiện Lê Quang H tranh chấp quyền sử dụng đất
