Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/KDTM-PT

Ngày 07-8-2024

V/v tranh chấp hợp đồng mua

bán hàng hóa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đắc Cường.

Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Công Lực;

Bà Trần Thị Thắm.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Bé - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 01 và 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh, thương mại thụ lý số 27/2024/TLPT-KDTM ngày 03/7/2024 về việc “tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.

Do Bản án kinh doanh, thương mại số 23/2024/KDTM-ST ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 37/2024/QĐ-PT ngày 22/7/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty TNHH Đ; trụ sở: B1/10K ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: bà Trần Thị T, sinh năm 1996 hoặc bà Nguyễn Lê Đông N, sinh năm 2002; cùng địa chỉ liên hệ: số E, đường N (D18 Muồng T, Phố Đông V), phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy ủy quyền ngày 26/12/2023); bà T có mặt, bà N vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: bà Trần Thị Y T1 là Luật sư của Công ty TNHH S; địa chỉ liên hệ: số E, đường N (D18 Muồng T, Phố Đông V), phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt theo quy định của pháp luật.

2. Bị đơn: Công ty TNHH C; trụ sở: số G, đường Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: bà Cao Thị Hồng K, sinh năm 1991; địa chỉ: số A, đường A, khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (theo Giấy ủy quyền ngày 18/3/2024); có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Hà Thị H, sinh năm 1991; địa chỉ: B ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt.

3.2. Ông Lâm P, sinh năm 1996; địa chỉ: số G, đường Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt.

4. Người kháng cáo: Công ty TNHH C là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 26/12/2023 của nguyên đơn Công ty TNHH Đ (gọi tắt là Công ty Đ) và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 28/11/2023, Công ty Đ có đơn đặt hàng 03 cái máy làm mát 2 tầng iFan-24.000A của Công ty TNHH C (gọi tắt là Công ty C) theo đơn hàng số NNNPP/DP/231128, địa chỉ nhà máy sản xuất tại: số A, khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; tổng giá trị đơn hàng là 42.456.960 đồng, trong đó bao gồm: tiền hàng 39.321.000 đồng và tiền thuế GTGT là 3.144.960 đồng. Trong quá trình trao đổi, hai bên thống nhất ngày 29/11/2023 Công ty C sẽ giao hàng đến địa chỉ do Công ty Đ cung cấp, trước khi giao hàng Công ty Đ sẽ thanh toán số tiền theo đơn đặt hàng. Vì đơn đặt hàng trước, bà Hà Thị H là Giám đốc Công ty Đ đã chuyển dư số tiền 168.000 đồng cho Công ty C nên hai bên thoả thuận sẽ trừ vào các đơn đặt hàng sau và bà H đã chuyển cho Công ty C số tiền 42.288.960 đồng bằng tài khoản cá nhân của mình vào số tài khoản 5590222233456, tên tài khoản LÂM PHÚ, Ngân hàng A Chi nhánh S1 - Bình Dương theo yêu cầu của nhân viên sale có tên zalo Luân N1 để thanh toán theo đơn đặt hàng số NNNPP/ĐP/231128 (có biên lai chuyển khoản thành công). Tuy nhiên, ngày 29/11/2023 Công ty C không thực hiện giao hàng theo thoả thuận của hai bên. Công ty Đ đã nhiều lần liên hệ nhưng Công ty C viện nhiều lý do để không giao hàng. Nhận thấy, hành vi trên của Công ty C là vi phạm, xâm hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty Đ nên Công ty Đ khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết các vấn đề sau đây:

  1. Hủy hợp đồng mua bán hàng hóa theo đơn đặt hàng ngày 28/11/2023, buộc Công ty TNHH C có trách nhiệm hoàn trả cho Công ty TNHH Đ số tiền là 42.456.960 đồng.
  2. Buộc Công ty TNHH C phải trả tiền lãi cho Công ty TNHH Đ trên số tiền 42.456.960 đồng do vi phạm nghĩa vụ giao hàng tạm tính từ ngày 30/11/2023 đến ngày 26/12/2023 là: (42.456.960 đồng x 28 ngày x 12,75%/năm)/365 ngày = 415.263 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu tính lãi theo quy định tại Điều 306 của Luật Thương mại. Thời gian tính lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ từ ngày 30/11/2023 đến ngày 16/5/2024. Ngoài ra, nguyên đơn yêu cầu bị đơn tiếp tục trả lãi từ ngày 17/5/2024 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán.
  3. Buộc Công ty TNHH C phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ giao hàng, liên quan đến khoản tiền lợi nhuận khi Công ty TNHH Đ bán hàng cho bên thứ ba với số tiền là 2.255.040 đồng.

* Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty TNHH C trình bày:

Ngày 28/11/2023, Công ty TNHH C (gọi tắt là Công ty C) có nhận đơn đặt hàng của Công ty Đ, nội dung đơn hàng: Tên hàng hóa: Máy làm mát iFan-24.000A, số lượng 3 cái, đơn giá 13.104.000 đồng/cái; tổng tiền thanh toán là 42.456.960 đồng. Ngày 28/11/2023, bà Hà Thị H đã chuyển vào tài khoản cá nhân của ông Lâm P số tiền 42.288.960 đồng với nội dung “DAI PHUC THANH TOAN DON HANG 3 QUAT LAM MAT 24000A NGAY 28/11/2023-281123-12:12:17 492603”. Ông Lâm P không xác nhận đơn hàng của bà H, cũng không cung cấp số tài khoản cá nhân của mình để bà H chuyển tiền. Khi nhận được số tiền này, ông Lâm Phú n đó là tiền bà H chuyển trả nợ cho Công ty theo đơn hàng phát sinh của hợp đồng nhà phân phối. Sau đó, ông Lâm P cũng không nhận được bất kỳ phản hồi nào từ phía bà H về việc yêu cầu thực hiện đơn hàng gì. Nay căn cứ vào “Đơn đặt hàng ngày 28/11/2023” và nội dung chuyển khoản của bà H, Công ty C xác định đã nhận số tiền 42.288.960 đồng từ Công ty Đ để thực hiện đơn hàng 03 quạt làm mát iFan-24000A ngày 28/11/2023. Tuy nhiên, trong đơn đặt hàng không thỏa thuận thời gian giao hàng, Công ty C cũng không nhận được bất kỳ yêu cầu nào của bà H về việc đề nghị giao hàng theo đơn đặt hàng nên Công ty C chưa thực hiện việc giao hàng. Trong nội dung đơn đặt hàng, chỉ thỏa thuận địa điểm giao hàng tại: B ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.

Đơn hàng này, Công ty C nhận được từ Phòng Kinh doanh của Công ty, chứ không nhận từ bất kỳ cá nhân nào có tên zalo Luân Nguyễn n1 trình bày của nguyên đơn. Đơn hàng chỉ có thông tin về loại hàng hóa, giá cả, địa chỉ giao hàng nhưng không thỏa thuận về thời gian giao hàng. Số tiền 42.288.960 đồng mà Công ty Đ thanh toán cho đơn hàng này, còn thiếu 168.000 đồng. Nguyên đơn cho rằng số tiền còn thiếu đã được khấu trừ vào tiền hàng mà Công ty Đ đã trả dư cho đơn hàng trước đó, nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên Công ty C không thừa nhận. Công ty C khẳng định nhân viên Công ty được giao nhiệm vụ liên quan đến đơn hàng không có ai có tên zalo Luân N1, cũng không có cá nhân nào có tên zalo Luân N1 được Công ty giao nhiệm vụ làm việc, quyết định liên quan đến đơn hàng này với Công ty Đ.

Công ty C không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Công ty Đ, vì: Trong đơn đặt hàng không thỏa thuận về thời gian giao hàng nên Công ty C không vi phạm nghĩa vụ giao hàng. Nếu Công ty Đ vẫn muốn thực hiện đơn hàng này thì chủ động đề xuất ngày giao hàng với Công ty C để Công ty C sắp xếp. Tại phiên tòa, Công ty Đ yêu cầu hủy hợp đồng mua bán theo đơn đặt hàng ngày 28/11/2023 thì Công ty C không có ý kiến. Công ty C không vi phạm nghĩa vụ giao hàng nên khi hủy hợp đồng thì xem như Công ty Đ đơn phương chấm dứt đơn hàng và sẽ mất tiền đặt hàng, Công ty C không có trách nhiệm trả lại số tiền đã nhận. Đối với số tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ và tiền bồi thường thiệt hại như yêu cầu của Công ty Đ thì Công ty C không đồng ý. Công ty C không vi phạm hợp đồng, hai bên không xác định thời gian giao hàng thì

làm sao xác định thời gian chậm thực hiện nghĩa vụ và bồi thường thiệt hại phát sinh như yêu cầu của nguyên đơn.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị H trình bày:

Ngày 28/11/2023, bà H đại diện Công ty Đ đặt hàng 03 máy làm mát iFan-24.000A của Công ty C theo đơn hàng số NNNPP/ĐP/231128. Tổng giá trị đơn hàng là 42.456.960 đồng, trong đó: tiền hàng là 39.321.000 đồng và tiền thuế GTGT là 3.144.960 đồng. Trong quá trình trao đổi, hai bên thống nhất ngày 29/11/2023 Công ty C sẽ giao hàng đến địa chỉ do bên Công ty Đ cung cấp. Trước khi giao hàng, Công ty Đ phải thanh toán số tiền theo đơn đặt hàng. Do đơn hàng trước bà Hiện đại d Công ty Đ chuyển cho Công ty C dư số tiền 168.000 đồng nên hai bên thỏa thuận sẽ trừ vào các đơn đặt hàng sau. Do đó, bà H đã chuyển số tiền 42.288.960 đồng bằng tài khoản cá nhân của mình vào số tài khoản 5590222233456, tên tài khoản LÂM PHÚ, Ngân hàng A Chi nhánh S1 - Bình Dương để thanh toán số tiền theo đơn đặt hàng số NNNPP/DP/231128 (có biên lai chuyển khoản thành công). Việc chuyển tiền vào tài khoản cá nhân là theo yêu cầu của nhân viên bán hàng có tài khoản zalo tên Luân N1. Trước đó, bà H1 đã đại diện Công ty Đ đặt mua hàng thành công với Công ty C một vài lần. Những lần đặt hàng trước đó, nhân viên có tài khoản zalo tên Luân N1 cũng là người trực tiếp trao đổi, làm việc với Công ty Đ và đều yêu cầu bà H chuyển tiền vào tài khoản cá nhân có tên LÂM PHÚ. Tuy nhiên, ngày 29/11/2023 Công ty C không thực hiện giao hàng theo thoả thuận của hai bên. Bà H đại diện Công ty Đ đã nhiều lần liên hệ với Công ty C, nhưng Công ty C viện nhiều lý do để không giao hàng cho Công ty Đ. Bà H nhận thấy, hành vi trên của Công ty C là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, xâm hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty Đ. Vì vậy, bà H đề nghị Toà án nhân dân thành phố Dĩ An giải quyết vụ việc theo quy định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty Đ.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lâm P trình bày:

Ngày 28/11/2023, tài khoản số 5590222233456 mở tại Ngân hàng A đứng tên Lâm P có nhận được số tiền 42.288.960 đồng với nội dung “DAI PHUC THANH TOAN DON HANG 3 QUAT LAM MAT 24000A NGAY 28/11/2023-281123-12:12:17 492603”. Với vai trò là Phó Giám đốc Công ty TNHH C, ông Lâm P được biết có Công ty TNHH Đ ký hợp đồng nhà phân phối với Công ty C và đang nợ tiền hàng là 50.485.440 đồng với nhiều đơn hàng khác nhau trong thời gian dài. Vì vậy, khi nhận được số tiền như trên, ông Lâm P cho rằng Công ty Đ thanh toán tiền nên đã thông báo cho bộ phận kế toán được biết và thực hiện theo quy trình của Công ty, ông Lâm P không có bất cứ tranh chấp hay yêu cầu nào liên quan đến số tiền trên. Ông Lâm P xác nhận số tiền này thuộc về Công ty C, không phải của cá nhân ông P. Về việc tại sao bà H có số tài khoản của ông Lâm P thì ông Lâm P không biết do ai cung cấp, vì ông Lâm P chưa bao giờ làm việc với bà Hà Thị H và không có phát sinh bất kỳ giao dịch dân sự nào liên quan đến số tiền trên. Ông Lâm P không có tài liệu, chứng cứ gì liên quan đến vụ án vì cá nhân ông P không có giao dịch cá nhân nào với bà H và Công ty TNHH Đ.

Tại Bản án số 23/2024/KDTM-ST ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã căn cứ các Điều 30, 35, 39, 144, 147, 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 24, 37, 292, 306, 307, khoản 4 Điều 312, Điều 313 và Điều 314 của Luật Thương mại; Điều 26 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Đ đối với Công ty TNHH C về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.

    Hủy hợp đồng mua bán hàng hóa theo Đơn đặt hàng ngày 28/11/2023 giữa Công ty TNHH ĐCông ty TNHH C.

    Buộc Công ty TNHH C phải thanh toán cho Công ty TNHH Đ tổng số tiền 44.318.409 đồng; trong đó: tiền mua hàng là 42.288.960 đồng và tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán là 2.029.449 đồng.

    Lãi suất chậm trả trên số tiền gốc chưa thanh toán là 42.288.960 đồng được tiếp tục tính kể từ ngày 17/5/2024 theo mức lãi suất 0,867%/tháng cho đến khi Công ty TNHH C thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán.

  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Đ đối với số tiền mua hàng là 168.000 đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền 2.225.040 đồng.
  3. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

    Công ty TNHH C phải nộp số tiền 3.000.000 đồng.

    Công ty TNHH Đ phải chịu số tiền 3.000.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001507 ngày 09/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 30/5/2024, bị đơn Công ty TNHH C có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm buộc Công ty TNHH Đ tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa mà Công ty Đ đã đặt theo đơn đặt hàng ngày 28/11/2023, thời gian giao hàng đề nghị Công ty Đ thông báo bằng văn bản cho Công ty C trước ít nhất 05 ngày làm việc để chuẩn bị hàng hóa. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Đ về việc buộc Công ty C hoàn trả số tiền 42.288.960 đồng và số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 306 của Luật Thương mại. Đến ngày 06/6/2024, Công ty TNHH C có đơn kháng cáo bổ sung, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm buộc Công ty TNHH Đ tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa mà Công ty Đ đã đặt theo đơn đặt hàng ngày 28/11/2023; đồng thời, buộc Công ty Đ phải thanh toán số tiền còn thiếu theo đơn hàng số NNNPP/ĐP/231128 là 168.000 đồng và xác nhận ngày yêu cầu giao hàng để Công ty C sắp xếp giao hàng.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của mình, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến: quá trình giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét đơn kháng cáo bổ sung của Công ty C, nhận thấy: quá trình giải quyết vụ án, Công ty C không có yêu cầu phản tố; việc Công ty C kháng cáo bổ sung yêu cầu Công ty Đ hoàn trả số tiền 168.000

đồng là vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu nên không có căn cứ xem xét. Về hướng giải quyết vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nhận thấy: Công ty C yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, nhưng không cung cấp được chứng cứ mới để chứng minh nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Công ty C, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Về kiến nghị khắc phục thiếu sót: không.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến trình bày của các bên đương sự và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về hướng giải quyết vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: đây là vụ án kinh doanh thương mại về việc “tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét đơn kháng cáo ngày 30/5/2024 của Công ty C được thực hiện trong thời hạn luật định và đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên hợp lệ. Riêng đơn kháng cáo bổ sung ngày 06/6/2024 là vượt quá yêu cầu nên căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 284 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty Đ và yêu cầu kháng cáo của Công ty C, nhận thấy: quá trình giải quyết vụ án, hai bên đương sự đều thống nhất thừa nhận Công ty Đ có “Đơn đặt hàng ngày 28/11/2023”, số đơn hàng: NNNPP/ĐP/231128 để mua Máy làm mát iFan-24.000A, số lượng 3 cái, đơn giá 13.104.000 đồng, thành tiền là 39.312.000 đồng, tiền thuế GTGT 3.144.960 đồng, tổng số tiền thanh toán là 42.456.960 đồng (bút lục 05), Công ty C đã nhận số tiền 42.288.960 đồng từ Công ty Đ vào ngày 28/11/2023 nên theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây được xem là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh.

[4] Xét thấy, theo đơn đặt hàng nêu trên hai bên chỉ xác định: “địa điểm giao hàng: B1/10K ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam”, không thỏa thuận về ngày giao hàng và người nhận hàng. Nhưng theo tin nhắn zalo giữa bà H với tài khoản zalo mang tên “Luân NI”, truy cập lúc 10 giờ 02 phút và 11 giờ 13 phút ngày 28/11/2023, có nội dung thể hiện: “Ngày 29/11/2023 giao hàng, chuyển khoản trước khi giao; gửi em bb giao hàng với; xe đang lấy hàng trên showroom về kịp em cho đi luôn trong buổi chiều nhá” (bút lục 04). Để thực hiện nội dung tin nhắn zalo nêu trên, lúc 12 giờ 12 phút 20 giây ngày 28/11/2023, bà Hà Thị H, Giám đốc Công ty Đ đã chuyển khoản thanh toán cho Công ty C số tiền 42.288.960 đồng (bút lục 06). Do đó, có căn cứ xác định ngày hai bên giao kết hợp đồng là ngày 28/11/2023 và ngày giao hàng là ngày 29/11/2023. Tuy nhiên, cho đến nay Công ty C vẫn chưa giao hàng cho Công ty Đ là vi phạm nghĩa vụ giao hàng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 37 của Luật Thương mại quy định: “Trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn giao hàng thì bên bán phải giao hàng trong một thời hạn hợp lý sau khi giao kết hợp đồng”. Theo đơn đặt hàng đã ghi địa điểm giao hàng là “B1/10K ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh” thì bên bán (Công ty C) phải giao hàng đến địa điểm trên cho bên mua (Công ty Đ) trong một thời gian hợp lý sau khi giao kết hợp đồng. Việc Công ty C cho rằng không vi phạm thời gian giao hàng với lý do đơn đặt hàng không xác nhận thời gian giao hàng là không có căn cứ. Do Công ty C vi phạm nghĩa vụ giao hàng nên Tòa

án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Đ, hủy Đơn đặt hàng số NNNPP/DP/231128 ngày 23/11/2023 và buộc Công ty C phải trả lại số tiền 42.288.960 đồng đã nhận và thanh toán tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất cơ bản của 03 Ngân hàng tại thời điểm xét xử sơ thẩm từ ngày 30/11/2023 đến ngày 16/5/2024 là 05 tháng 16 ngày với số tiền 2.029.449 đồng là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 306 và Điều 314 của Luật Thương mại; Điều 11 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 16/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

[5] Vì những phân tích và lập luận nêu trên, nhận thấy: Công ty C kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới để chứng minh nên không có căn cứ để xem xét. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là hoàn toàn phù hợp.

[6] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực thi hành.

[7] Về án phí kinh doanh, thương mại phúc thẩm: Công ty TNHH C phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 148, Điều 284, Điều 293, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH C, giữ nguyên Bản án số 23/2024/KDTM-ST ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương như sau:

Căn cứ các Điều 24, 37, 292, 306, 307, khoản 4 Điều 312, Điều 313 và Điều 314 của Luật Thương mại. Điều 11 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 16/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Đ đối với Công ty TNHH C về việc “tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.

- Hủy hợp đồng mua bán hàng hóa theo Đơn đặt hàng số NNNPP/ĐP/231128 ngày 28/11/2023 giữa Công ty TNHH Đ với Công ty TNHH C.

- Buộc Công ty TNHH C phải thanh toán cho Công ty TNHH Đ tổng số tiền 44.318.409 đồng. Trong đó, tiền mua hàng là 42.288.960 đồng và tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán là 2.029.449 đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

1.2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Đ đối với số tiền mua hàng là 168.000 đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền 2.225.040 đồng.

1.3. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

- Công ty TNHH C phải chịu số tiền 3.000.000 đồng.

- Công ty TNHH Đ phải chịu số tiền 3.000.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001507 ngày 09/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

2. Về án phí kinh doanh, thương mại phúc thẩm: Công ty TNHH C phải chịu 2.000.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004944 ngày 06/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - TAND thành phố Dĩ An;
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An;
  • - Các đương sự;
  • - TỔ HCTP;
  • - Lưu: Tòa KT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Đắc Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/KDTM-PT ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 34/2024/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa vụ Công ty Đại P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger