TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 34/2024/HS-ST Ngày 20 - 5 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Văn Tư.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Luận và ông Trần Hành
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Khánh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2024/TLST- HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 06/5/2024 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 28 tháng 7 năm 2001 tại phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ văn hóa: Lớp 01/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Quần chúng; Con ông:Nguyễn Văn T, sinh năm:1965; Con bà: Trương Thị T1, sinh năm: 1966; A, chị, em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ tư; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án: Ngày 18/8/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 10 tháng tù, về tội Trộm cắp tài sản, theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tại Bản án số 47/2022/HS-ST; đã chấp hành xong Bản án ngày 07/01/2023, chưa được xoá án tích lại phạm tội mới; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh kể từ ngày 06/02/2024 cho đến nay,(có mặt).
Bị hại:
1. Nhà thờ giáo họ Lộc T2; Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh.
Người đại diện: Ông Trần Xuân L, sinh năm: 1963; Nghề nghiệp: Quản lý nhà thờ giáo họ Lộc Tiến; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh,( có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trương Thị T1, sinh năm: 1966; Nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh,(có mặt).
- Người làm chứng: Anh Trần Văn T3, sinh năm: 2007; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh,(vắng mặt).
Người đại diện cho người làm chứng Trần Văn T3: Ông Trần Văn T4, sinh năm: 1968; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh,(vắng mặt).
- Người chứng kiến: Ông Trần Anh H, sinh năm 1991; địa chỉ: tổ dân phố H, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh,(có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 03/02/2024, Nguyễn Văn Đ đi bộ qua nhà thờ giáo họ L, ở Đ, tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh thấy cửa hông nhà thờ không khoá nên nảy sinh ý đi vào trong nhà thờ để lấy trộm tiền công đức. Đến khoảng 0 giờ 30 phút, ngày 04/02/2024, Nguyễn Văn Đ chờ cho các hộ dân quanh nhà thờ tắt đèn đi ngủ rồi đi bộ đến nhà thờ, trèo qua tường rào vào bên trong sân nhà thờ. Khi đi qua gốc cây sát bên nhà thờ, Nguyễn Văn Đ nhặt 02 viên đá ở gốc cây rồi đi theo lối cửa hông để vào bên trong nhà thờ. Khi vào trong nhà thờ, qua ánh đèn mờ ở trong nhà thờ, Nguyễn Văn Đ thấy dưới chân tượng đức mẹ M có một chiếc két sắt đựng tiền công đức. Nguyễn Văn Đ kéo chiếc két sắt ra giữa sàn nhà, lật ngữa chiếc két sắt, rồi đi ra phía sau lấy 04 bộ áo giúp lễ để trải lên cửa két sắt, rồi dùng đá đập mạnh lên cửa két sắt. Đập được một lúc thì cửa két sắt sụp vào trong, Nguyễn Văn Đ dựng két sắt đứng lên và dùng tay móc các tờ tiền từ trong két sắt nhét vào trong túi áo khoác của mình (chủ yếu là loại tiền mệnh giá 10.000₫ và 20.000đ). Do cửa két sắt chỉ sụp vào nên khi không thể lấy tiếp số tiền trong két nữa, thì Nguyễn Văn Đ đi ra theo lối cửa hông nhà thờ, trèo qua tường rào và đi về nhà. Khi về nhà, Nguyễn Văn Đ lấy toàn bộ số tiền trộm cắp trong túi áo khoác ra chỉ đếm lấy 1.000.000đ bỏ vào túi quần để ngày mai chi tiêu, số tiền còn lại (không đếm) Đ bỏ lại vào trong túi áo khoác và treo trên móc treo quần áo trong phòng ngủ. Đến khoảng 08 giờ sáng cùng ngày, Nguyễn Văn Đ mang theo số tiền 1.000.000 đồng trộm cắp được để ở trong túi quần đi mua sắm quần áo, ăn uống và chi tiêu hết.
Trên cơ sở lời khai của Nguyễn Văn Đ, Cơ quan điều tra Công an thị xã K tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Nguyễn Văn Đ, ở Tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh phát hiện và thu giữ số tiền 1.280.000₫ mà Nguyễn Văn Đ trộm cắp để ở trong túi áo khoác treo trong phòng ngủ của Nguyễn Văn Đ.
Số tiền 2.280.000 đồng trong két sắt mà Nguyễn Văn Đ trộm cắp là của nhà thờ giáo họ Lộc T2 ở Đ, tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh do ông Trần Xuân L làm quản lý. Cơ quan điều tra Công an thị xã K trưng cầu định giá chiếc két sắt mà Nguyễn Văn Đ đập phá làm hư hỏng. Theo kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND thị xã K thì chiếc két sắt mà Nguyễn Văn Đ đập phá làm hư hỏng trị giá 1.125.000 đồng.
Vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra Công an thị xã K đã thu giữ các vật chứng bao gồm: Thu giữ của Nguyễn Văn Đ số tiền 1.280.000 đồng; thu giữ tại hiện trường 01 chiếc két sắt hiệu Việt Tiệp, size 45, màu xanh xám, đã qua sử dụng; 04 bộ quần áo giúp lễ bằng vải màu đỏ - trắng, đã qua sử dụng; 02 viên đá, kích thước (20 x 30)cm và (10 x 20)cm. Số tiền 1.280.000 đồng đã trả lại cho nhà thờ giáo họ Lộc Tiến, còn các vật chứng khác chuyển Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại số tiền 2.280.000 đồng bị mất, và nhận lại chiếc két sắt mới do gia đình bị cáo Nguyễn Văn Đ bồi thường, nhà thờ giáo họ Lộc Tiến không có yêu cầu gì thêm về bồi thường thiệt hại và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Cáo trạng số 35/CT –VKS -TXKA ngày 02/4/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn Đ mức án từ 06 - 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 06/02/2024; Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ: 01(một) chiếc két sắt hiệu Việt Tiệp, size 45, màu xanh xám, đã qua sử dụng; 04(bốn) bộ quần áo giúp lễ bằng vải màu đỏ - trắng, đã qua sử dụng; 02 viên đá, kích thước (20 x 30)cm và (10 x 20)cm
Bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có tranh luận gì với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất để các bị cáo có điều kiện cải tạo tốt, sửa chữa lỗi lầm sớm trở thành về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã K, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, với nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố và các chứng cứ khác có tại hồ sơ, như vậy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 04/02/2024, lợi dụng cửa nhà thờ không khóa, Nguyễn Văn Đ đột nhập vào trong nhà thờ giáo họ L, ở Đ, tổ dân phố H, phường K, thị xã K do ông Trần Xuân L quản lý, dùng đá đập phá két sắt lấy trộm 2.280.000đ tiền công đức của nhà thờ ở trong két sắt đưa về nhà cất dấu. Đến sáng ngày 05/02/2024, Nguyễn Văn Đ lấy 1.000.000 đồng tiền trộm cắp được để đi mua quần áo và chi tiêu cá nhân. Tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Nguyễn Văn Đ ở Tổ dân phố H, phường K, thị xã K Cơ quan điều tra Công an thị xã K phát hiện và thu giữ số tiền 1.280.000 đồng mà Nguyễn Văn Đ trộm cắp ở trong túi áo khoác treo ở trong phòng ngủ của Nguyễn Văn Đ.
Trong vụ án này, một mình Nguyễn Văn Đ thực hiện, không có đồng phạm.
Đối với hành vi đập phá chiếc két sắt gây thiệt hại 1.125.000 đồng không cấu thành tội phạm, Công an thị xã K đã ra Quyết định xử phạt hành chính theo Quyết định số 15/QĐ-XPHC, ngày 05/3/2024, bằng hình thức phạt tiền 4.000.000 đồng, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Hành vi lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản của người khác của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự “ Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng......thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Do đó việc truy tố, xét xử bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xuất phát từ bản tính lười lao động nhưng thích hưởng thụ, bị cáo đã lợi dụng sơ hở trong quản lý, bảo vệ tài sản tại các cơ sở tín ngưỡng, đột nhập chiếm đoạt tài sản người khác để tiêu xài cá nhân, hành vi đó không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an xã hội trên địa bàn, gây tâm lý lo lắng, bất bình trong nhân dân, nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo Nguyễn Văn Đ đang có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích lại phạm tội mới do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự..
- Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, ngoài ra bị cáo có bố đẻ tham gia quân tình nguyện tại nước bạn Lào được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng ba, Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên cần xem xét cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4]. Trên cơ sở xem xét, đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Xét thấy: Bị cáo Nguyễn Văn Đ tuy có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, tài sản chiếm đoạt không lớn, nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị xét xử án tù có thời hạn về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản, chứng tỏ bị cáo không ăn năn hối cải về hành vi vi phạm pháp luật mà bản thân đã gây, nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tiếp tục cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích, song khi lượng hình cũng cần xem xét về trình độ học vấn của bị cáo thấp, nhận thức pháp luật hạn chế, hoàn cảnh gia đình khó khăn để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát cũng đủ nghiêm
[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có việc làm, không có thu nhập, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm về mặt dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Về xử lý vật chứng:
- Đối với số tiền Việt Nam đồng 1.280.000đ(Một triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng) quá trình điều tra cơ quan Điều tra đã trả lại cho B hại, nên không xem xét.
- Đối với 01(một) chiếc két sắt nhãn hiệu Việt Tiệp, size 45, màu xanh xám, đã qua sử dụng, vật chứng không có giá trị, không sử dụng được, bị hại đã được mua trả két mới không yêu cầu nhận lại; 02(hai) viên đá, kích thước (20 x 30)cm và (10 x 20)cm, vật chứng không có giá trị, không sử dụng được. Nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu hủy.
- Đối với 04(bốn) bộ quần áo giúp lễ bằng vải màu đỏ - trắng, đã qua sử dụng, bị hại không yêu cầu nhận lại. Nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu hủy.
[8]. Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, Đại diện Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 38 Bộ luật hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1 điểm c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 299, Điều 326, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Về tội danh: Tuyên bố Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt:
- Xử phạt Nguyễn Văn Đ 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 06/02/2024;
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01(một) chiếc két sắt nhãn hiệu Việt Tiệp, size 45, màu xanh xám, đã qua sử dụng(đã bị phá vỡ, phần cánh cửa của két sắt bị rời ra); 02(hai) viên đá, kích thước (20 x 30)cm và (10 x 20)cm, đã qua sử dụng; 04(bốn) bộ quần áo thầy giúp lễ nhà thờ, bằng vải, màu đỏ - trắng, đã qua sử dụng.
(Tình trạng vật chứng trên có tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 -4- 2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã K)
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, Đại diện bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Văn Tư |
Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 34/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 34