|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2024/HS-PT Ngày 23/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Luân
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền, ông Phạm Ngọc Thành
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Tòa án ND tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLPT-HS ngày 26/02/2024 đối với các bị cáo Đặng Văn T, Vũ Văn L do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXPT-HS ngày 22/3/2024.
- Các bị cáo có kháng cáo:
- Đặng Văn T, sinh ngày 15/01/1993, tại huyện T, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn Á, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam, tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn T1 (đã chết) và bà Trương Thị T2, bị cáo có vợ là chị Bùi Thị H và 2 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Không, bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Vũ Văn L (tên thường gọi: Q), sinh ngày 25/10/1998, tại huyện T, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn L1 và bà Vũ Thị L2, bị cáo có vợ là chị Ngô Thị L3 và 2 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2022; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Không, bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án này còn có bị cáo Bùi Văn T3 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 19/4/2024, bị cáo T3 đã có văn bản về việc rút toàn bộ kháng cáo nên Tòa án không triệu tập và đã ra Quyết định chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với bị cáo T3.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 0 giờ 30 phút, ngày 24/9/2023, tại khu vực cổng Tám C, thuộc địa phận thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang Bùi Văn T3 đang cất giữ trái phép 10 hộp pháo nổ (loại pháo hoa nổ 36 ống/1 hộp) có tổng khối lượng 10,743kg. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Văn T3 tại thôn Á, xã N, huyện T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện phát hiện, thu giữ thêm 10 hộp pháo nổ (loại pháo hoa nổ 36 ống/1 hộp) có tổng khối lượng 11,039kg. Số pháo hoa nổ với tổng khối lượng 21,782kg nêu trên T3 khai mua về, tàng trữ nhằm mục đích để bán kiếm lời.
Quá trình điều tra, xác định nguồn gốc số pháo trên của Bùi Văn T3 là do mua lại của Vũ Văn L (tên thường gọi là Q) sinh ngày 25/10/1998, trú tại thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình và Đặng Văn T sinh ngày 15/01/1993, trú tại thôn Á, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình, cụ thể như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 20/9/2023, Bùi Văn T3 sử dụng tài khoản Facebook "Bùi Văn T3" gọi điện qua ứng dụng M đến tài khoản Facebook "Đặng Thiện" của Đặng Văn T hỏi mua pháo nổ (loại 36 ống/1 hộp) do Trung Quốc sản xuất thì T đồng ý. Sau đó, T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A73 truy cập ứng dụng Facebook vào nhóm “Hội Hoa Trời” tìm và mua của một người nói giọng nam giới, không biết là tên, địa chỉ thông qua ứng dụng Messenger 10 hộp pháo hoa nổ (loại 36 ống/1 hộp) do Trung Quốc sản xuất với giá 7.500.000 đồng và hẹn thời gian địa điểm giao hàng tại khu vực Nhà thờ L4, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Sau khi đặt được pháo nổ, T gọi điện thông qua ứng dụng M cho T3 yêu cầu chuyển tiền mua pháo. T3 đồng ý và sử dụng tài 1035466652 của Ngân hàng V (mang tên Bùi Văn T3) chuyển số tiền 7.500.000 đồng đến số tài khoản số 3404555559393 của Ngân hàng A (mang tên Đặng Văn T) để thanh toán tiền mua pháo. Đến khoảng 17 giờ ngày 23/9/2023, tại khu vực công nhà thờ L4, T gập và nhận của 1 người nam giới, không rõ tên, tuổi, địa chỉ giao 1 thùng bia cát-tông bên trong có 10 hộp pháo nổ (loại pháo hoa nổ 36 ông/1 hộp), mỗi hộp có kích thước (14,4 x14,4 x 10)cm do Trung Quốc sản xuất; tổng khối lượng là 11,039 kg. Sau đó, T gọi điện thoại cho T3 đến để lấy pháo. Sau khi nhận được pháo nổ từ Thiện, T3 mang về cất giấu tại phòng ngủ của T3 tại nhà ở thôn Á, xã N, huyện T, mục đích để bán kiếm lời.
Khoảng 19 giờ ngày 22/9/2023, Bùi Văn T3 gọi điện thoại cho Vũ Văn L để hỏi mua pháo nổ (loại pháo hoa nổ 36 ống/1 hộp) do Trung Quốc sản xuất thì L đồng ý và nói giá là 750.000 đồng/1 hộp và thêm 300.000 đồng công vận chuyển. Thánh đồng ý rồi sử dụng tài khoản số 1035466652, Ngân hàng V (mang tên Bùi Văn T3) chuyển số tiền 7.800.000 đồng đến tài khoản số 33404205180307, Ngân hàng A (mang tên Vũ Văn L) để thanh toán tiền mua pháo. Sau đó, L sử dụng điện thoại di động nhân hiệu Iphone7Plus truy cập ứng dụng Facebook vào nhóm "bán kclo3" tìm và mua của 1 người nói giọng nam giới không biết tên, địa chỉ thông qua ứng dụng Messenger 10 hộp pháo nó (loại pháo hoa nổ 36 ống/1 hộp) do Trung Quốc sản xuất với giá 7.500.000 đồng và hẹn thời gian địa điểm giao hàng tại thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Đến khoảng 17 giờ 30 phút ngày 23/9/2023, tại thôn T, xã N, huyện T, có 1 người nam giới không rõ tên tuổi địa chỉ đến và giao cho L 1 thùng bia cát-tông, do biết bên trong có 10 hộp pháo nổ (loại pháo hoa nổ 36 ống/1 hộp) mỗi hộp có kích thước (14,4 x14,4 x 10) cm do Trung Quốc sản xuất nên L không kiểm tra mà nhận hàng và trả cho người này số tiền 7.500.000 đồng, đồng thời L gọi điện thoại cho T3 đến lấy pháo. Sau khi nhận được pháo nổ từ L, T3 mang về cất giấu tại phòng ngủ của T3 tại thôn Á, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Do sợ bị phát hiện, khoảng 0 giờ ngày 24/9/2023, T3 điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đỏ đen Biển kiểm soát 1788-363.75 chở 1 thùng bia cát-tông dựng pháo đến khu vực đê xã Đ để cất giấu chờ tiêu thụ, khi đi đến khu vực cống Tâm C1, thuộc địa phận thôn N, xã Đ, huyện T thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, phát hiện, bắt quả tang.
Bản án sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã quyết định:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vũ Văn L và Đặng Văn T phạm tội "Buôn bán hàng cấm",
-
Về hình phạt:
- Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38; Điều 50, Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Văn L (tên thường gọi: Q) 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án. Phạt bổ sung 05 triệu đồng đối với bị cáo để sung quỹ Nhà nước. Truy thu 300.000 đồng của bị cáo để sung quỹ nhà nước.
- Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50, Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án. Phạt bổ sung 05 triệu đồng đối với bị cáo để sung quỹ Nhà nước.
Bản án sơ thẩm còn tuyên tội danh, hình phạt đối với bị cáo Bùi Văn T3, tuyên xử lý vật chứng, tuyên nghĩa vụ án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 22/01/2024 các bị cáo Vũ Văn L, Đặng Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Vũ Văn L, Đặng Văn T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã tuyên và tỏ ra ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt đối với các bị cáo nhưng cho hưởng án treo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm và gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định là hợp lệ, nên được xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo của các bị cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra và các tài liệu được thu thập có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện T, tỉnh Thái Bình lập hồi 01 giờ 40 phút phút ngày 24/9/2023 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu và biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an huyện T, tỉnh Thái Bình lập ngày 24/9/2023, tại các địa điểm là khu vực cống T, thuộc địa phận xã Đ, chỗ ở của Bùi Văn T3 tại thôn Á, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình và tại trụ sở Công an huyện T; Biên bản khám xét do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 24/9/2023 tại chỗ ở của Bùi Văn T3, thôn Á, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình; Bản Kết luận giám định số 1466/KL-KTHS ngày 26/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh N; các bản sao kê tài khoản ngân hàng của Bùi Văn T3, Vũ Văn L và Đặng Văn T; Biên bản ghi lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; Biên bản ghi lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố các bị cáo Vũ Văn L và Đặng Văn T phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự và xử phạt mỗi bị cáo 1 năm tù là phù hợp, có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, do đó không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo.
Đối với yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bản án sơ thẩm đã áp dụng cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo xuất trình biên lai nộp số tiền phạt bổ sung và tiền án phí, thể hiện việc chấp hành pháp luật và sự ăn năn hối cải của các bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới tại giai đoạn xét xử phúc thẩm. Xét thấy các bị cáo Vũ Văn L và Đặng Văn T phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, thì các bị cáo có đủ điều kiện để xem xét cho hưởng án treo. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo mà không cần thiết phải chấp hành hình phạt tù, cho các bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách để các bị cáo cải tạo tại địa phương, tiếp tục lao động nuôi sống bản thân và gia đình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tại phiên tòa là phù hợp. Do đó, cần chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
[4] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần yêu kháng cáo của các bị cáo Vũ Văn L và Đặng Văn T, sửa một phần của Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Cụ thể:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vũ Văn L và Đặng Văn T phạm tội "Buôn bán hàng cấm",
-
Về hình phạt:
- Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 65; Điều 50, Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Văn L (tên thường gọi: Q) 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 23/4/2024. Truy thu 300.000 đồng của bị cáo để sung quỹ nhà nước.
- Giao bị cáo Vũ Văn L cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo Vũ Văn L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
- Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Vũ Văn L cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Vũ Văn L phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50, Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 23/4/2024.
- Giao bị cáo Đặng Văn T cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo Đặng Văn T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
- Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Đặng Văn T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Đặng Văn T phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án; Các bị cáo Vũ Văn L và Đặng Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 23/4/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa. Vũ Duy Luân |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Nguyễn Thị Kim Hằng | Chu Tuấn Vương | Vũ Duy Luân |
Bản án số 34/2024/HS-PT ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về buôn bán hàng cấm (hình sự)
- Số bản án: 34/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm (Hình sự)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Đăng Văn Th
