|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KAN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2024/HS-ST Ngày 31 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Doanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Huyền và ông Lương Đình Bảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Kim Dung, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Đậu Xuân Hà, Kiểm sát viên.
Ngày 31/7/2024 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2024/HS-ST, ngày 29 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HS, ngày 04/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 27/2024/HSST-QĐ ngày 18/7/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị H
(Tên gọi khác: Không), sinh ngày 10/3/1968 tại tỉnh Bắc Giang; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ N, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: Lớp 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị S; chồng thứ nhất là Nông Văn D (đã chết), chồng thứ hai là Vũ Văn N (đã ly hôn), chồng thứ ba là Tang XiangFu (quốc tịch Trung Quốc); con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 1991; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 23/4/2001, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 05 (năm) năm tù về tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ” theo bản án hình sự phúc thẩm số 628/HSPT và ngày 23/3/2011, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 06 (sáu) năm tù về tội “Mua bán người” theo bản án hình sự phúc thẩm số 140/HSPT (Đã được xóa án tích). Bị cáo áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2023 cho đến ngày 22/5/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng:
- Bà Bàn Thị H1 (Tên gọi khác: Bàn Thị H2), sinh năm 1978; Địa chỉ: Tổ A, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn - Có mặt.
- Ông Phạm Văn H3, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn C, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn - Có mặt.
- Bà Nông Thị T, sinh năm 1992; Địa chỉ: Xóm E, xã V, thành phố C, tỉnh Cao Bằng - Vắng mặt.
- Ông Hà Văn H4, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn K, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn - Vắng mặt.
- Ông Nông Văn L, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Bắc Kạn - Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1983; Địa chỉ: Tổ C, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 10 phút, ngày 16/12/2023, sau khi nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã kiểm tra, lập biên bản về việc tại nhà nghỉ T2 thuộc tổ N, thị trấn Y, huyện N do Nguyễn Thị H, sinh năm 1968 trú cùng địa chỉ làm chủ có biểu hiện hoạt động chứa mại dâm. Quá trình kiểm tra đã phát hiện:
- Tại phòng nghỉ số 102: Phát hiện Bàn Thị H1 (Tên gọi khác Bàn Thị H2), sinh năm 1978 trú tại tổ A, phường X, thành phố B và Phạm Văn H3, sinh năm 1980 trú tại thôn C, xã N, huyện C trong tình trạng không mặc quần áo và đang có hành vi quan hệ tình dục với nhau. Ngoài ra còn phát hiện và thu giữ 04 (bốn) bao cao su nhãn hiệu Water Aotus, trong đó có 01 (một) chiếc đã xé vỏ, đã qua sử dụng và 03 chiếc còn lại chưa qua sử dụng và số tiền 350.000₫ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng), 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 11 Promax, màu vàng, màn hình cảm ứng, bên trong có gắn sim số điện thoại 0986.311.xxx, đã qua sử dụng tạm giữ của H1.
- Tại phòng nghỉ số 103: Phát hiện Nông Thị T, sinh năm 1992 trú tại xóm E, xã V, thành phố C, tỉnh Cao Bằng và Hà Văn H4, sinh năm 1987 trú tại thôn K, xã B, huyện C đang trong tình trạng không mặc quần áo. Ngoài ra còn phát hiện và thu giữ 01 (một) bao cao su nhãn hiệu Water Hotus chưa qua sử dụng; 01 (một) bao cao su nhãn hiệu S.Wm chưa qua sử dụng và số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng), 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, màn hình cảm ứng bên trong có gắn sim số điện thoại 0817.082.xxx và 0329.684.075, đã qua sử dụng tạm giữ của T.
- Tại phòng nghỉ số 202: Phát hiện Nông Văn L, sinh năm 1989 trú tại thôn N, xã C, huyện N và Nguyễn Thị C, sinh năm 1983 trú tại tổ C, phường X, thành phố B đang ở trong phòng cùng nhau.
Hồi 23 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, địa điểm, phương tiện đối với Nguyễn Thị H tại tổ N, thị trấn Y, huyện N. Qua khám xét đã tiến hành tạm giữ: Số tiền 21.300.000₫ (Hai mươi mốt triệu ba trăm nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11, màu ghi, màn hình cảm ứng bên trong có gắn 02 (hai) sim số điện thoại 0327.620.xxx và 0326.980.387, đã qua sử dụng; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, mã số hộ kinh doanh 8590864646 do Phòng Tài chính Kế hoạch huyện N cấp ngày 03/8/2021;- 01 (một) giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự số 01 do Công an thị trấn Y cấp ngày 07/12/2023; 01 (một) Sổ quản lý kinh doanh dịch vụ lưu trú mang tên cơ sở kinh doanh “Nhà nghỉ T2".
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã xác định: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 16/12/2023, Phạm Văn H3 và Hà Văn H4 đến nhà nghỉ T2 để thuê phòng nghỉ và tìm gái bán dâm. Khi đến H3 và H4 gặp H (Là chủ và quản lý nhà nghỉ T2) tại quầy lễ tân và H3 đặt vấn đề với H về việc muốn tìm gái bán dâm để H3 và H4 quan hệ tình dục thì được H đồng ý. H3 hỏi giá tiền mua dâm thì được H cho biết mình chỉ thu tiền phòng nghỉ với giá tiền 80.000đ/01 giờ/01 phòng, còn tiền mua dâm thì khách tự trả trực tiếp cho gái bán dâm. Sau đó H lấy điện thoại di động gọi điện cho Bàn Thị H1 và Nông Thị T đến nhà nghỉ của mình để bán dâm cho H3 và H4. Sau khi H gọi điện thoại xong thì H3 bảo H lấy cho H3 và H4 02 (hai) phòng nghỉ và trả cho H số tiền 160.000đ (Một trăm sáu mươi nghìn đồng). Khoảng 05 phút sau, Bàn Thị H1 đến nên H3 chọn H1 và hỏi H vào phòng nào thì được H bảo “Phòng nào trống thì vào” nên H3 cùng H1 đi vào phòng nghỉ số 102 của nhà nghỉ. Sau khi vào phòng, H1 thu tiền mua dâm của H3 số tiền 350.000₫ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) rồi sau đó hai người tự cởi quần áo và nằm lên giường quan hệ tình dục với nhau. Tiếp đó, sau khi H3 và H1 đi vào phòng nghỉ, H4 ngồi được khoảng vài phút thì Nông Thị T đến nhà nghỉ để bán dâm cho H4, H4 và T cùng nhau đi phòng nghỉ số 103 của nhà nghỉ để quan hệ tình dục với nhau. Sau khi vào phòng thì cả hai người tự cởi quần áo, nằm lên giường và đang chuẩn bị quan hệ tình dục thì tổ công tác Công an tỉnh kiểm tra, phát hiện và lập biên bản.
Đối với Nông Văn L và Nguyễn Thị Chung kết q điều tra xác định: Khoảng 21 giờ 00 ngày 16/12/2023, Nông Văn L liên lạc qua mạng xã hội Z hẹn Nguyễn Thị C đến nhà nghỉ “Thúy Hiển” để mua bán dâm. Nên sau đó L đến nhà nghỉ “Thúy Hiển” rồi cả hai tự thuê phòng nghỉ số 202 với H để nghỉ qua đêm. Sau khi C vào phòng, L đi tắm rồi cùng C nằm lên giường nói chuyện với nhau, hai người đang chuẩn bị quan hệ tình dục thì cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện và lập biên bản sự việc. Việc thỏa thuận mua bán dâm thì do Lý tự liên hệ với C và rủ nhau đến nhà nghỉ T2 để mua bán dâm với nhau nên H không biết. Ngoài ra trước đó L và C được mua bán dâm với nhau 03 lần tại nhà nghỉ T2 và do cả hai tự liên lạc và thực hiện, bản thân H cũng không biết.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra đối với hành vi mua bán dâm tại nhà nghỉ T2 vào ngày 16/12/2023 đối với vụ việc trên giữa các cặp mua bán dâm Phạm Văn H3 và Bàn Thị H1, Hà Văn H4 và Nông Thị T. Kết quả khám nghiệm hiện trường và thực nghiệm điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo, những người có liên quan và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được.
Về vật chứng: Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VS MART, màu xanh, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng (tạm giữ của Nguyễn Thị C) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A16, màu đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng (tạm giữ của Nông Văn L). Quá trình điều tra xác định việc mua bán dâm giữa L và C tại nhà nghỉ T2 do cả hai tự liên hệ, thỏa thuận và bản thân H không biết. Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ cùng vật chứng trên đến phòng C2 Công an tỉnh B để xác minh, xử lý theo thẩm quyền.
Tại Bản cáo trạng số 28/CT-VKST-P1 ngày 28/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội "Chứa mại dâm” quy định tại khoản 1 Điều 327 của Bộ luật Hình sự.
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào chứa mại dâm, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ, đến 100.000.000đ, phạt quản chế từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
+ Tuyên bố bị cáo phạm tội “Chứa mại dâm”.
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luạt Hình sự:
Xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 17/12/2023 đến ngày 22/5/2024.
Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
+ Về vật chứng, biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
* Tịch thu tiêu hủy: 04 (bốn) bao cao su nhãn hiệu Water Aotus, trong đó có 01 chiếc đã xé vỏ, đã qua sử dụng và 03 chiếc còn lại chưa qua sử dụng được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu T1; 01 (một) bao cao su nhãn hiệu Water Hotus chưa qua sử dụng; 01 (một) bao cao su nhãn hiệu S.Wm chưa qua sử dụng được niêm phong trong phong bì ký hiệu B103.
* Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11 thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Promax thu giữ của Bàn Thị H1; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO thu giữ của Nông Thị T.
* Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 350.000đ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ của Bàn Thị H1 được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu T3.
* Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị H: 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, mã số hộ kinh doanh 8590864646 do Phòng Tài chính Kế hoạch huyện N cấp ngày 03/8/2021; 01 (một) Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự số 01 do Công an thị trấn Y cấp ngày 07/12/2023; 01 (một) Sổ quản lý kinh doanh dịch vụ lưu trú mang tên cơ sở kinh doanh “Nhà nghỉ T2”.
* Trả lại cho Nông Thị T số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tạm giữ của Nông Thị T được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu T2.
* Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 160.000đ (Một trăm sáu mươi nghìn đồng) bị cáo Nguyễn Thị H nộp theo Biên lai thu số 0000139 ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn.
* Tiếp tục tạm giữ số tiền 21.300.000₫ (Hai mươi mốt triệu ba trăm nghìn đồng) tạm giữ của bị cáo Nguyễn Thị H được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu T1 để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án cho bị cáo.
+ Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội đúng quy định của pháp luật, không oan. Đề nghị HĐXX xem xét xử phạt bị cáo mức án thấp nhất.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Văn H3, Nguyễn Thị C không có yêu cầu bồi thường, không có ý kiến về các tài sản, đồ vật bị thu giữ. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bàn Thị H1 đề nghị trả lại chiếc điện thoại Iphone 11Promax.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi chứa mại dâm của bị cáo: Tại phiên tòa, qua tranh tụng đã làm rõ:
Ngày 16/12/2023, Nguyễn Thị H là chủ nhà nghỉ T2 tại tổ N, thị trấn Y, huyện N đã có hành vi trao đổi và sau đó liên lạc với Bàn Thị H1 (T1 gọi khác Bàn Thị H2) và Nông Thị T đến bán dâm cho Phạm Văn H3 và Hà Văn H4 tại các phòng nghỉ số 102, 103 tại nhà nghỉ của mình để thu lợi số tiền160.000 đồng (Một trăm sáu mươi nghìn đồng) từ việc cho thuê 02 (hai) phòng nghỉ. Khi Bàn Thị H1, Nông Thị T bán dâm cho Phạm Văn H3 và Hà Văn H4 thì Cơ quan Công an tỉnh phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi đứng ra tổ chức, điều hành hoạt động mại dâm, đồng ý cho người khác thực hiện việc mua bán dâm tại địa điểm do mình có trách nhiệm quản lý và hưởng lợi của Nguyễn Thị H đã phạm vào tội "Chứa mại dâm" theo quy định tại khoản 1 Điều 327 của Bộ luật Hình sự.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng và các chứng cứ tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, khẳng định việc Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị H là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất, hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội, gây dư luận xấu trong nhân dân và mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần thiết phải xử lý nghiêm khắc mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo.
[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Thị H có nhân thân xấu, đã từng nhiều lần bị kết án nhưng đã được xóa án tích.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo Nguyễn Thị H trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã nhận thức ra được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ "Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải". Bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 160.000đ (Một trăm sáu mươi nghìn đồng) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn để đảm bảo việc thi hành án. Ngoài ra bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Văn Đ được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Do đó, bị cáo H được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Thị H là chủ cơ sở nhà nghỉ T2 đã có hành vi làm trung gian, trao đổi thỏa thuận cho các đối tượng thực hiện việc mua bán dâm và hưởng lợi số tiền 160.000đ (Một trăm sáu mươi nghìn đồng). Xét tính chất hành vi bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, trước đó bị cáo đã từng bị Tòa án xét xử song bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội. Do đó, cần buộc bị cáo phải chịu hình phạt tù có thời hạn mới đảm bảo răn đe, giáo dục bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội vì mục đích thu lợi bất chính do đó cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định.
[6] Về xử lý vật chứng:
* Đối với các vật chứng gồm: 04 (bốn) bao cao su nhãn hiệu Water Aotus, trong đó có 01 chiếc đã xé vỏ, đã qua sử dụng và 03 chiếc còn lại chưa qua sử dụng được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu T1; 01 (một) bao cao su nhãn hiệu Water Hotus chưa qua sử dụng; 01 (một) bao cao su nhãn hiệu S.Wm chưa qua sử dụng được niêm phong trong phong bì ký hiệu B103 không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
* Đối với các vật chứng gồm:
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11, màu ghi, màn hình cảm ứng, bên trong có gắn 02 sim số điện thoại 0327.620.xxx và 0326.980.387, đã qua sử dụng là vật chứng trực tiếp liên quan đến hành vi phạm tội dùng để liên lạc gọi điện cho Bàn Thị H1 và Nông Thị T đến nhà nghỉ T2 để bán dâm vào ngày 16/12/2023 nên cần tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Promax, màu vàng, màn hình cảm ứng, bên trong có gắn sim số điện thoại 0986.311.xxx, đã qua sử dụng tạm giữ của Bàn Thị H1, xác định H1 sử dụng điện thoại này để liên lạc với bị cáo đến bán dâm tại nhà nghỉ T2 vào ngày 16/12/2023 nên cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, màn hình cảm ứng, bên trong có gắn sim số điện thoại 0817.082.xxx và 0329.684.075, đã qua sử dụng tạm giữ của Nông Thị T, xác định T sử dụng điện thoại này để liên lạc với bị cáo đến bán dâm tại nhà nghỉ T2 vào ngày 16/12/2023 nên cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước.
- - 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, mã số hộ kinh doanh 8590864646 do Phòng Tài chính Kế hoạch huyện N cấp ngày 03/8/2021; 01 (một) Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự số 01 do Công an thị trấn Y cấp ngày 07/12/2023; 01 (một) Sổ quản lý kinh doanh dịch vụ lưu trú mang tên cơ sở kinh doanh “Nhà nghỉ T2” không có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
- - Số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tạm giữ của Nông Thị T được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu T2, xác định không có liên quan đến vụ án cần trả lại cho Nông Thị T.
- - Số tiền 350.000₫ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) tạm giữ của Bàn Thị H1 được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu T3 hiện đang được gửi bảo quản tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Bắc Kạn. Xác định đây là khoản tiền T và H1 có được từ việc bán dâm tại nhà nghỉ T2 vào ngày 16/12/2023. Xét thấy, mặc dù trong vụ án xác định đây là khoản thu lợi từ hoạt động vi phạm pháp luật là bán dâm. Do đó, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với khoản tiền này.
- - Số tiền 160.000đ (Một trăm sáu mươi nghìn đồng) bị cáo Nguyễn Thị H nộp theo Biên lai thu số 0000139 ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn là tiền do H3, H4 trả tiền thuê phòng để mua dâm ngày 16/12/2023. Xác định đây là tiền thu lời bất chính nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- - Số tiền 21.300.000₫ (Hai mươi mốt triệu ba trăm nghìn đồng) tạm giữ của bị cáo Nguyễn Thị H được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu T1, xét thấy không có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bị cáo.
[7] Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có để sung quỹ Nhà nước.
[8] Trong vụ án còn có nội dung:
Quá trình điều tra, Phạm Văn H3 và Hà Văn H4 khai vào ngày 12/12/2023 thì H3 và H4 có được đến nhà nghỉ T2 để đặt vấn đề mua bán dâm và sau đó H có gọi điện thoại cho 02 người phụ nữ (trong đó có Bàn Thị H1 là người đã bán dâm cho H3 vào ngày 16/12/2023, người còn lại thì H3, H4, H1 không biết rõ là ai) đến bán dâm cho H3 và H4. Bàn Thị H1 khai trước ngày 16/12/2023 khoảng 01 tuần, H1 có được bị cáo H gọi đến nhà nghỉ T2 để bán dâm cho H3. Quá trình điều tra, bị cáo H chỉ thừa nhận có được gọi điện thoại cho T và H1 đến bán dâm cho H3 và H4 vào ngày 16/12/2023. Còn trước đó H không được gọi gái bán dâm đến để bán dâm cho H3 và H4 như H3, H4 và H1 đã khai báo. Tại phiên tòa, bị cáo không thừa nhận hành vi chứa mại dâm vào ngày 12/12/2023.
Xét thấy trong quá trình điều tra, lời khai của H3, H4, H1 không thống nhất. Thời gian đầu H3, H4 chỉ thừa nhận được mua dâm vào ngày 16/12/2023. Sau đó, H3, H4 khai được mua dâm tại nhà nghỉ T2 vào ngày 12/12/2023. Khi tiến hành đối chất với bị cáo, H3, H4 lại khai không nhớ thời gian, không nhớ ai đặt vấn đề mua dâm, ai liên lạc với gái bán dâm. Lời khai của Bàn Thị H1 trong quá trình điều tra cũng không thống nhất. Thời gian đầu, H1 khẳng định chỉ được bán dâm cho H3 tại nhà nghỉ T2 ngày 16/12/2023, sau đó lại khai trước đó khoảng 01 tuần (không nhớ thời gian cụ thể) được bán dâm cho H3 tại nhà nghỉ T2. Khi tiến hành đối chất với bị cáo, Hai khẳng định chỉ được bán dâm ngày 16/12/2023 cho H3. Trước đó vài lần bán dâm cho khách nhưng không nhớ là ai. Tại phiên tòa, H3 khai trước ngày 16/12/2023 được mua dâm với Hai một lần nhưng không nhớ thời gian cụ thể; H1 khai do H3 tự liên hệ với H1 đến nhà nghỉ T2 để mua bán dâm. Ngoài ra, cơ quan điều tra cũng không xác định được người phụ nữ đã bán dâm cho H4 vào ngày 12/12/2023 là ai, ở đâu. Kết quả kiểm tra dữ liệu điện thoại di động của H và H1 không phát hiện cuộc gọi, tin nhắn hoặc dữ liệu có liên quan thể hiện việc H đã liên lạc với H1 vào ngày 12/12/2023. Do đó không đủ căn cứ để khẳng định bị cáo Nguyễn Thị H đã có hành vi chứa mại dâm vào ngày 12/12/2023.
Đối với Phạm Văn H3, Hà Văn H4 là những người có hành vi mua dâm và Bàn Thị H1 (Tên gọi khác Bàn Thị H2), Nông Thị T là những người có hành vi bán dâm cho H3 và H4 vào ngày 16/12/2023 tại nhà nghỉ T2. Do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến phòng C2 Công an tỉnh B để xem xét xử lý hành chính là có căn cứ.
Đối với việc mua bán dâm giữa Nông Văn L và Nguyễn Thị C vào ngày 16/12/2023 tại nhà nghỉ T2. Qua điều tra xác định do L và C quen biết, tự liên lạc và thỏa thuận mua bán dâm với nhau, sau đó thì tự đến nhà nghỉ T2 để thuê phòng và mua bán dâm. Bản thân Nguyễn Thị H không biết việc L và C thuê phong nghỉ của mình để mua bán dâm với nhau. Do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ cùng tang vật đến phòng C2 Công an tỉnh B để xem xét xử lý hành chính là có căn cứ.
Đối với ông Tang X, sinh năm 1961 (Chồng Nguyễn Thị H) và anh Nông Mạnh C1, sinh năm 1990 (Con của Nguyễn Thị H) cùng trú tại tổ N, thị trấn Y, huyện N. Quá trình điều tra xác định ông Tang X và anh C1 không biết và không được H nói hay biết việc H có hành vi trao đổi, liên lạc để gọi các người phụ nữ đến bán dâm cho khách tại nhà nghỉ T2 do H quản lý nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Chứa mại dâm”.
- Vật chứng, biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11, màu ghi, màn hình cảm ứng, bên trong có gắn 02 sim số điện thoại 0327.620.xxx và 0326.980.387, đã qua sử dụng.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Promax, màu vàng, màn hình cảm ứng, bên trong có gắn sim số điện thoại 0986.311.xxx, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, màn hình cảm ứng, bên trong có gắn sim số điện thoại 0817.082.xxx và 0329.684.075, đã qua sử dụng.
- - Số tiền: 350.000đ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu “T3”.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị H: 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, mã số hộ kinh doanh 8590864646 do Phòng Tài chính Kế hoạch huyện N cấp ngày 03/8/2021; 01 (một) Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự số 01 do Công an thị trấn Y cấp ngày 07/12/2023; 01 (một) Sổ quản lý kinh doanh dịch vụ lưu trú mang tên cơ sở kinh doanh “Nhà nghỉ T2”.
- - Trả lại Nông Thị T số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu “T2”.
- - Số tiền 160.000đ (Một trăm sáu mươi nghìn đồng) theo biên lai số 0000139 ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn.
- - Số tiền 21.300.000₫ (Hai mươi mốt triệu ba trăm nghìn đồng) tạm giữ của bị cáo Nguyễn Thị H được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu T1 để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
- Biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có để sung quỹ Nhà nước cụ thể: Bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp lại số tiền 160.000đ (Một trăm sáu mươi nghìn đồng). Xác nhận bị cáo đã nộp đủ số tiền thu lời bất chính theo Biên lai thu số 0000139 ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn.
- Án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thị H, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bàn Thị H1, Phạm Văn H3, Nguyễn Thị C có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nông Thị T, Hà Văn H4, Nông Văn L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2023 cho đến ngày 22/5/2024.
Hình phạt bổ sung: Phạt tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.
* Tịch thu tiêu hủy gồm: 04 (bốn) bao cao su nhãn hiệu Water Aotus, trong đó có 01 chiếc đã xé vỏ, đã qua sử dụng và 03 chiếc còn lại chưa qua sử dụng được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu T1; 01 (một) bao cao su nhãn hiệu Water Hotus chưa qua sử dụng; 01 (một) bao cao su nhãn hiệu S.Wm chưa qua sử dụng được niêm phong trong phong bì ký hiệu “B103”.
* Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước gồm:
* Trả các vật chứng, tài sản cụ thể:
* Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo gồm:
(Tình trạng vật chứng theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an tỉnh B và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn).
Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thế Doanh |
Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KAN về hình sự (chứa mại dâm)
- Số bản án: 34/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Chứa mại dâm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KAN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H - Chứa mại dâm
