Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯƠNG KHÊ

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HS-ST

Ngày: 27/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Phú.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Xuân Minh và bà Lê Thị Thanh Huyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Lê Thuần Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 27/9/2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2024/HSST, ngày 16/9/2024; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HS, ngày 17/9/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn C; Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 20/02/1988; nơi sinh: Xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1956 và bà Trần Thị T, sinh năm 1958 ; anh chị em ruột có 08 người (bị cáo là con thứ năm); Chức vụ chính quyền, đoàn thể: Không; Vợ Lục Thị Như Y, sinh năm 1990; con có 04 đứa, lớn nhất 16 tuổi, nhỏ nhất 2 tuổi; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/8/2018, Nguyễn Văn C bị TAND huyện Hương Khê xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội Cố ý gây thương tích quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự theo bản án số 23/2018/HS-ST. Đến ngày 27/7/2022 thì Nguyễn Văn C chấp hành xong bản án, hiện đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/01/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.
  2. Họ và tên: Trần Đình H; sinh ngày: 24/4/1988; nơi sinh: Xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 0/12 (không biết chữ); dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ chính quyền, đoàn thể: Không; con ông Trần Đình N, đã chết và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1968; anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ Hoàng Thị H1, sinh năm 1989; con có 01 đứa, 05 tuổi; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/01/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Đình H: Bà Nguyễn Thị N1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H; có mặt.

- Người làm chứng:

  • + Chị Dương Thị G; sinh năm 1995; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Văn P; sinh năm 1963; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Cao Viết T1; sinh năm 1993; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16h00 ngày 30/01/2024, Trần Đình H điều khiển xe mô tô biển kiểm sát 38N6-2578 đến nhà của Nguyễn Văn C chơi. Tại đây, C nói với HĐinh Xuân H2, trú tại thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình vừa gọi điện báo là đã có ma túy hồng phiến. Nghe vậy H nhờ C liên lạc lại với H2 để mua 4.000.000 đồng ma túy hồng phiến. C sử dụng điện thoại di động của mình nhãn hiệu LG V50ThinQ có số thuê bao 0377274277 gọi điện đến số điện thoại 0349.753.xxx của H2 để hỏi mua 4.000.000 đồng ma tuý hồng phiến, H2 đồng ý bán và bảo C đến nhà H2 để lấy ma túy. Sau khi tìm được nguồn ma túy H về nhà lấy số tiền 4.000.000 đồng rồi điều khiển xe mô tô chở C đến nhà Đinh Xuân H2, trên đường đi, H đưa số tiền 4.000.000 đồng cho C để C thực hiện việc mua bán ma túy với H2. Khoảng 18 giờ cùng ngày, HC đến nhà H2 và ngồi tại bàn uống nước được đặt ở khu vực sân của nhà, lúc này có chị Dương Thị G, sinh năm 1985, trú tại thôn T, xã H, tỉnh Quảng Bình cũng đến nhà H2 ngồi chơi. Sau khi chị G ra về, H2 đi vào phía trong nhà rồi cầm ra một gói nilong được bọc trong băng dính màu đen để trên bàn uống nước. C biết đó là gói ma tuý hồng phiến nên cầm gói nilong cho vào túi áo, đồng thời lấy số tiền 4.000.000 đồng ra, kẹp ở ngón chân đưa qua gầm bàn cho H2. Sau khi thực hiện việc mua bán ma túy xong, HC điều khiển xe mô tô đến nhà người quen là ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1963, trú tại thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình để ăn cơm. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày thì cả hai ra về, lúc này Nguyễn Văn C mở cốp xe mô tô rồi cất gói ma túy hồng phiến vào bên trong.

Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, khi CH điều khiển xe mô tô biển kiểm sát 38N6-2578 về đến khu vực gác chắn đường sắt ga L thuộc địa phận thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh bị thì tổ công tác Công an huyện H, phối hợp Công an xã H tổ chức tuần tra, kiểm soát trên địa bàn tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện trong cốp xe có 01 gói nilong được quấn băng dính màu đen, mở ra kiểm tra phát hiện bên trong chứa nhiều viên nén hình tròn màu hồng và màu xanh. CH thừa nhận các viên nén màu hồng trên là ma tuý hồng phiến, mà cả hai mua của Đinh Xuân H2 ở Quảng Bình về để sử dụng. Lực lượng chức năng đã đưa CH về trụ sở Công an xã H, lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật cùng 02 chiếc điện thoại, 01 chiếc xe mô tô biển kiểm sát 38N6-2578.

Tại bản Kết luận giám định số 352/KL-KTHS ngày 05/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận: Các viên nén hình tròn màu hồng gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 9,4078 gam. Các viên nén hình tròn màu xanh gửi đến giám định không phải là ma túy, có khối lượng 0,1790 gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II.C, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Kết luận giám định số 369/KL-KTHS ngày 06/2/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Phát hiện 03 dấu vết đường vân trên các vỏ bao túi ni lông được thu giữ và niêm phong trong phong bì thư. Các dấu vết đường vân không đủ yếu tố tiến hành giám định.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Đinh Xuân H2, kết quả không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì, làm việc với Đinh Xuân H2 thì H2 trình bày có mối quan hệ quen biết với Nguyễn Văn C. Chiều ngày 30/01/2024, C cùng một người đàn ông khác đến nhà H2 chơi, uống nước nhưng không xảy ra sự việc gì liên quan đến ma túy.

* Vật chứng vụ án, gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu LG V50ThinQ, màu đen, số IMEI: 355693103932912, số M: V50040d, bên trong có chứa thẻ sim 0377274277, điện thoại bị vỡ mà hình trước và mặt sau, đã qua sử dụng. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu xám, số Seri: F2LZT06RKPHC, số IMEI: 355112105611889 và 35311210561188, đã qua sử dụng. 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh, đeo biển kiểm soát 38N6-2578, đã qua sử dụng. 01 gói ni lông trong suốt, bên ngoài được quấn băng dính màu đen, bên trong có 9,4078 gam ma túy M (sau khi lấy mẫu giám định còn lại 9,2164 gam) và 0,1790 gam viên nén màu xanh không phải là ma túy (đã lấy giám định hết).

Quá trình giải quyết xác định chiếc xe mô tô Honda Wave biển kiểm sát 38N6-2578 thuộc sở hữu của ông Nguyễn Công K, sinh năm 1954, trú tại xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, bị mất trộm tại nhà vào năm 2016, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã chuyển chiếc xe mô tô trên đến Công an xã T, huyện C để giải quyết theo thẩm quyền.

Các vật chứng còn lại chuyển đến Cơ quan Thi hành án dân sự huyện H để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Nguyễn Văn CTrần Đình H đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình như nội dung trên. Các bị cáo không kêu oan, không tranh luận gì và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Đình H nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt, vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn, là người bị khuyết tật nặng, đã nhận thức được sai lầm của mình, khai báo thành khẩn, bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ theo qui định tại điểm s, p khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự đề được hưởng mức án nhẹ nhất, để tạo cơ hội cho bị cáo sớm trở về thành người có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo là người khuyết tật.

Tại bản Cáo trạng số: 31/CT-VKS-HS, ngày 12/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh truy tố các bị cáo Nguyễn Văn CTrần Đình H đều về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, Điều 17, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C mức án từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 30/01/2024; Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, Điều 17, khoản 1 Điều 38, điểm s, p khoản 1, Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Đình H mức án từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo từ ngày 30/01/2024.
  • - Vật chứng vụ án, gồm: Tịch thu công quĩ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu LG V50ThinQ, màu đen có chứa thẻ sim 0377274277, điện thoại bị vỡ mà hình trước và mặt sau, đã qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo Trần Đình H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu xám qua sử dụng.
  • Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ các vật chứng ma túy Methamphetamine sau khi lấy mẫu giám định còn lại 9,2164 gam và các túi ni lông, đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hương Khê.

Các bị cáo đều thừa nhận nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố tại phiên tòa hôm nay là đúng và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Người tham gia tố tụng: Người làm chứng chị Dương Thị G, anh Nguyễn Văn P; Người chứng kiến anh Cao Viết T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa hôm nay không có lý do. Các bị cáo và đại diện Viện kiểm sát không yêu cầu Tòa án hoãn phiên tòa, Hội đồng xét xử, xét thấy sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến quá trình làm sáng tỏ diễn biến trong vụ án nên quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[3] Tình tiết định tội, định khung, tính chất mức độ hành vi phạm tội:

- Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Nguyễn Văn CTrần Đình H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ; phù hợp với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Vì vậy có đủ cơ sở khẳng định vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 30/01/2024, tại khu vực gác chắn đường sắt ga L, thuộc địa phận thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, tổ công tác Công an huyện H phối hợp Công an xã H phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn CTrần Đình H đang có hành vi tàng trữ 9,4078 gam ma túy Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng.

Trong vụ án này, cả hai bị cáo đều là người thực hành tích cực, Nguyễn Văn C giữ vai trò là người trực tiếp liên hệ và mua ma túy về để sử dụng, còn Trần Đình H tham gia tích cực, hành vi đó đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, không oan sai.

- Vụ án thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II.C, STT 323, Nghị định 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Bản thân các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và khả năng nhận thức ma túy là hiểm họa của mỗi gia đình và cộng đồng xã hội, khi con người sử dụng sẽ đe dọa nghiêm trọng đến sức khoẻ và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gia tăng tội phạm hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây hoang mang lo lắng cho mọi người, do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm buộc các bị cáo phải tập trung cải tạo một thời gian.

[4] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Văn CTrần Đình H là đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, không có tổ chức, cấu kết chặt chẻ. Xét vị trí, vai trò các bị cáo; tình tiết tăng nặng, nhân thân và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo trong vụ án như sau:

  • - Bị cáo Nguyễn Văn C là người khởi xướng, rủ rê và nói với Trần Đình H, nói là Đinh Xuân H2 ở Quảng Bình có Ma túy hồng phiến, nên cả CH cùng đi mua ma túy sử dụng, C là người trực tiếp mua và nhận ma túy, đã cất dấu ma túy vào trong cốp xe mô tô. Bản thân bị cáo là người đã nghiện ma tuý, bị cáo có nhân thân xấu và giữ vai trò chính trong vụ án nên phải chụi hình phạt cao hơn bị cáo H và cần xử bị cáo mức án nghiêm và phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo nên cần căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần.
  • - Đối với bị cáo Trần Đình H là đồng phạm thứ yếu, có vị trí thấp trong vụ án, sau khi nghe C nói có người ở Quảng Bình có ma túy, nên cả hai cùng đi mua ma túy, bị cáo H đưa xe mô tô và tiền của mình đã cùng với bị cáo C đi mua ma túy. Vì vậy cần xử bị cáo mức án nghiêm và phải cách lý ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo; bản thân bị cáo là người khuyết tật nặng, đang được hưỡng chế độ theo Quyết định số 6640/QĐ-UBND ngày 23/7/2021 của Ủy ban nhân dân huyện H, nên căn cứ điểm s, p khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, ngoài ra bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân bị khuyết tật nặng, có đơn trình bày hoàn cảnh đã được chính quyền địa phương xác nhận, nên xem xét cho bị cáo được hưỡng tình tiết giảm nhẹ theo qui định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần.
  • - Các bị cáo CH đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Hình phạt bổ sung: Các bị cáo Nguyễn Văn CTrần Đình H có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung.

[6] Các hành vi khác: Đối với Đinh Xuân H2: quá trình điều tra, các bị cáo Nguyễn Văn CTrần Đình H đều trình bày số ma túy thu giữ khi bắt quả tang là do CH mua của Đinh Xuân H2 tại nhà ở của Đinh Xuân H2. C trình bày H2 sử dụng số điện thoại 0349.753.xxx để liên lạc trao đổi về việc mua bán ma túy, Cơ quan CSĐT Công an huyện H có Công văn gửi Ban thanh tra kiểm toán, tập đoàn C1 để xác minh thuê bao di động trên tuy nhiên đến thời điểm hiện nay chưa có kết quả, quá trình khám xét nhà ở của H2 không thu giữ đồ vật tài liệu gì, H2 không thừa nhận việc bán ma túy, hiện nay chỉ có lời khai của các bị cáo cho rằng Đinh Xuân H2 là người bán ma túy, do đó chưa đủ căn cứ để khởi tố đối với H2 về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Hiện nay Đinh Xuân H2 đang bị Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Quảng Bình khởi tố, bắt tạm giam ở một vụ án Tàng trữ trái phép chất ma túy khác. Xét thấy việc mua bán ma túy theo lời trình bày của các bị cáo CH là mua ở Quảng Bình, nên căn cứ khoản 4 Điều 163 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã chuyển thông tin cùng tài liệu kèm theo đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Quảng Bình để tiếp tục điều tra, giải quyết theo thẩm quyền.

[7] Vật chứng vụ án:

  • - Quá trình giải quyết xác định chiếc xe mô tô Honda Wave biển kiểm sát 38N6-2578 thuộc sở hữu của ông Nguyễn Công K, sinh năm 1954, địa chỉ xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, bị mất trộm vào năm 2016, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã chuyển chiếc xe mô tô trên đến Công an xã T, huyện C để giải quyết theo thẩm quyền, nên không xem xét.
  • - Tịch thu bán sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu LG V50ThinQ, màu đen, số IMEI: 355693103932912, số M: V50040d, bên trong có chứa thẻ sim 0377274277, điện thoại bị vỡ mà hình trước và mặt sau, đã qua sử dụng mà bị cáo Nguyễn Văn C dùng vào việc phạm tội, do đó cần tịch thu, bán nộp ngân sách Nhà nước theo quy định.
  • - Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu xám, số Seri: F2LZT06RKPHC, số IMEI: 355112105611889 và 35311210561188, đã qua sử dụng của bị cáo Trần Đình H không dùng vào việc phạm tội nên được trả lại.
  • - Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ các vật chứng 9,4078 gam ma túy Methamphetamine (sau khi lấy mẫu giám định còn lại 9,2164 gam) và 0,1790 gam viên nén màu xanh không phải là ma túy (đã lấy giám định hết); các võ bao ni lông chứa ma túy thu dữ trong quá trình bắt gửi các đối tượng (chứa trong 01 (một) phong bì thư ký hiệu M) đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hương Khê, theo điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy.

[8] Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật; bị cáo Trần Đình H là người khuyết tật nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Quan điểm đề nghị xử lý vụ án của Đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa phù hợp nhận định Hội đồng xét xử và đúng pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Về điều Luật:

  • - Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, Điều 17, khoản 1 Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn C.
  • - Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, Điều 17, khoản 1 Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47, điểm s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Đình H.

Căn cứ điểm điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  • * Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn CTrần Đình H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • * Về hình phạt:
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 06(sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 30/01/2024.
    • - Xử phạt bị cáo Trần Đình H 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 30/01/2024.
  • * Vật chứng vụ án:
    • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu LG V50ThinQ, màu đen, số IMEI: 355693103932912, số M: V50040d, bên trong có chứa thẻ sim 0377274277, điện thoại bị vỡ mà hình trước và mặt sau, đã qua sử dụng.
    • - Trả lại cho bị cáo Trần Đình H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu xám, số Seri: F2LZT06RKPHC, số IMEI: 355112105611889 và 35311210561188, đã qua sử dụng.
    • - Tịch thu, tiêu hủy gồm: Toàn bộ các vật chứng 9,4078 gam ma túy Methamphetamine (sau khi lấy mẫu giám định còn lại 9,2164 gam) và 0,1790 gam viên nén màu xanh không phải là ma túy (đã lấy giám định hết); các võ bao ni lông chứa ma túy thu dữ trong quá trình bắt gửi các đối tượng (chứa trong 01 (một) phong bì thư ký hiệu M).
    • (đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/9/2024).
  • * Án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Đình H.
  • * Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Công an tỉnh Hà Tĩnh (PV 06);
  • - Trại tạm giam;
  • - CA h. Hương Khê;
  • - CQ. THAHS Công an huyện Hương Khê;
  • - Chi cục THADS huyện Hương Khê;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, VP-PP

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Phú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 34/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bản án Ma túy Nguyen Van C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger