Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHƯỚC

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HS-ST

Ngày 26-11-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Thanh Liêm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Thu Thảo
  2. Ông Lê Văn Thưởng

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024, đối với:

- Bị cáo: Nguyễn Văn T (Ú), sinh năm 1978, tại tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị L; có vợ tên Trương Thị Khánh L1 và 02 con; tiền án: không; tiền sự 01 lần: Ngày 01/12/2022, bị Công an xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0001026/QĐ-XPHC với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc trái phép, chưa đóng phạt; bị cáo tại ngoại (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Chị Nguyễn Thị Ngọc L2, sinh năm 1990, nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang (có mặt);
  2. Anh Lê Văn K, sinh năm 1977, nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
  3. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1963; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
  4. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1979, nơi cư trú: ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
  5. Anh Trần Văn M, sinh năm 1978, nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
  6. Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1997, nơi cư trú: ấp P, xã P. huyện T, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
  7. Anh Phạm Văn S, sinh năm 1982, nơi cư trú: ấp T, xã T huyện T, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 25/12/2023, Công an xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang bắt quả tang vụ đánh bạc trái phép tại nhà bà Phạm Thị L, sinh năm 1937 thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Tại hiện trường nơi đánh bạc phát hiện các đối tượng: Nguyễn Thị Ngọc L2, Lê Văn K, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị H1. Riêng Trần Văn M và Nguyễn Văn T chạy thoát.

Tại hiện trường phát hiện và tạm giữ tang vật gồm:

  • - Tiền Việt Nam: 380.000 đồng.
  • - 01 thau nhựa màu đỏ; 01 dĩa tròn bằng sứ có hoa văn ở viền màu xanh; 01 cục nhựa hình lục giác được đánh số từ 1 đến 6, có chấm màu đen, đỏ, giữa cục nhựa có thanh trụ nhỏ màu xám; 01 tấm bìa giấy phía sau có đánh số từ 01 đến 06 và 01 tấm chiếu đã qua sử dụng.

Trên người các đối tượng phát hiện và tạm giữ số đồ vật, tài liệu sau:

  • - Trên người Lê Văn K thu giữ số tiền 2.150.000 đồng.
  • - Trên người Nguyễn Thị H1 thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đỏ, đã qua sử dụng.
  • - 05 (năm) xe mô tô 02 bánh các loại biển số: 63B8 - 137.86, 63B8 - 110.73, 63H1 - 4958, 63V1 - 1358, 63B8 - 046.04 và 01 xe đạp màu đỏ, đã qua sử dụng.
  • - Số tiền 100.000 đồng của Trần Văn M đã dùng đánh bạc, khi phát hiện cự việc M thì M chạy thoát và sau đó tự nguyện giao nộp.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 25/12/2023, Nguyễn Văn T nhận được điện thoại yêu cầu đến nhà bà L (mẹ ruột T) cách nhà T khoảng 600 mét để mở cửa chơi đánh bạc bằng hình thức lắc bông vụ thắng thua bằng tiền.

T điều khiển xe mô tô 02 bánh biển số 63B8 - 046.04 đến nhà bà L thì gặp K, L2, H1, C và M đến từ trước để chơi đánh bạc. T mở cửa nhà và lấy 01 thau nhựa màu đỏ, dĩa sứ, tấm lịch kẻ sẵn số và 01 tấm chiếu trải trong nhà bếp để cùng K, L2, H1, C và M chơi đánh bạc do K làm cái. Hình thức chơi đánh bạc được thống nhất như sau:

Bắt đầu mỗi ván, K quay đều con bông vụ trên dĩa sứ và dùng thau úp lại. Khi nghe tiếng bông vụ ngã trên dĩa thì tất cả người chơi đặt tiền vào các ô số bất kỳ được ghi trên tấm lịch, mỗi ván đặt từ 10.000 đồng đến 50.000 đồng. Kết thúc mỗi ván, K mở thau nhựa và căn cứ vào mặt trên của con bông vụ để xác định người chơi đặt tiền thắng hay thua cược, cụ thể: Nếu người chơi đặt 01 ô số thì sẽ thắng gấp 04 lần số tiền đặt cược; nếu đặt 02 ô số thì thắng gấp 02 lần và nếu đặt 02 ô số thẳng và 02 ô số huề thì sẽ thắng bằng số tiền đặt cược.

Đối với Lê Văn K khi đi đánh bạc mang theo con bông vụ và 2.300.000 đồng, K chỉ dùng 150.000 đồng trong số tiền trên để đánh bạc. Khi bị phát hiện, lực lượng Công an thu giữ 2.150.000 đồng trong người Khanh. K khai nhận quá trình đánh bạc bị thua 50.000 đồng, còn lại khoảng 100.000 đồng thì bị thu giữ trong tổng số tiền 380.000 đồng trên.

Nguyễn Văn C khai khi đi đánh bạc mang theo 220.000 đồng sử dụng đánh bạc. Khi bị bắt, C thua hết số tiền này và bị tạm giữ 01 xe đạp màu đỏ.

Trần Văn M khai khi đi đánh bạc mang theo 100.000 đồng sử dụng đánh bạc. Khi bị bắt, M thua 20.000 đồng nhưng chưa chung tiền, còn lại 100.000 đồng M mang theo khi bỏ chạy và đã nộp lại.

Quá trình điều tra xác định: K, C và M đều chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc.

Nguyễn Thị Ngọc L2 khai mang theo 90.000 đồng và dùng hết để đánh bạc. Kết quả, L2 thua hết số tiền trên. Khi bị bắt, L2 bị thu giữ 01 xe mô tô 02 bánh biển số 63B8 - 137.86.

Nguyễn Thị H1 khai mang theo 190.000 đồng sử dụng đánh bạc. Khi bị bắt, H1 đã thua hết 90.000 đồng, còn 100.000 đồng thì bị rớt mất trong quá trình bỏ chạy. Khi bị bắt, H1 bị thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đỏ.

Quá trình điều tra xác định: L2 và H1 đều có tiền sự về hành vi đánh bạc nhưng đã được xoá tiền sự.

Nguyễn Văn T khai khi đánh bạc mang theo 270.000 đồng và dùng hết để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, T khai thắng được 30.000 đồng. Khi bị phát hiện, T bỏ chạy và bỏ lại 300.000 đồng và bị Công an thu giữ cùng với 01 xe mô tô 02 bánh biển số 63B8 - 046.04.

Về tiền sự: Ngày 01/12/2022, Nguyễn Văn T bị Công an xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0001026/QĐ-XPHC với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép, chưa đóng phạt, tính đến lần phạm tội lần này chưa hết thời gian xóa tiền sự.

Như vậy, đây là vụ đánh bạc do Lê Văn K, Nguyễn Văn C, Trần Văn M, Nguyễn Thị Ngọc L2, Nguyễn Thị H1 và Nguyễn Văn T tham gia. Tổng số tiền mà K, C, M, L2, H1 và T đã sử dụng đánh bạc là 1.050.000 đồng. Trong đó, K 150.000 đồng, C 220.000 đồng, M 100.000 đồng, L2 90.000 đồng, H1 190.000 đồng và T 300.000 đồng (270.000 đồng vốn + thắng 30.000 đồng).

Mặc dù tổng số tiền mà những người chơi sử dụng để tham gia đánh bạc là dưới 5000.000 đồng (năm triệu đồng), nhưng do Nguyễn Văn T đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép, chưa xóa tiền sự nên hành vi lần này đã phạm vào tội Đánh bạc được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

* Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với số tiền 2.150.000 đồng thu giữ trên người của K, qua điều tra xác định K không có ý định sử dụng số tiền này để đánh bạc nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho K xong.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung thu giữ của Nguyễn Thị H1, qua điều tra xác định H1 không có ý định cầm cố, thế chấp điện thoại này để tham gia đánh bạc nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho H1 xong.
  • - Đối với xe mô tô 02 bánh biển số 63B8 - 110.73 và 63H1 - 4958, qua điều tra xác định do chị Đinh Thị Kim M1, sinh năm 1988 và anh Phạm Văn Đức E, sinh năm 1985 cùng đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang đứng tên sở hữu. Ngày 25/12/2023, chị M1 và anh Đức E không có tham gia đánh bạc nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chị M1 và anh Đức E xong.
  • - Đối với xe mô tô 02 bánh biển số 63B8 - 137.86, qua điều tra xác định do chị Nguyễn Thị T1 đứng tên sở hữu. Ngày 25/12/2023, chị T1 không biết chị Nguyễn Thị Ngọc L2 (chị ruột của T1) sử dụng xe trên đi đánh bạc nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chị T1 xong.
  • - Đối với xe mô tô 02 bánh biển số 63B8 - 046.04, qua điều tra xác định do Nguyễn Văn T mua lại của Phạm Văn S, nhưng chưa làm thủ tục sang tên và 01 xe đạp màu đỏ là tài sản của ông Nguyễn Văn C. Qua điều tra xác định T và ông C đều không có ý định sử dụng các xe này để cầm cố, thế chấp dùng đánh bạc và đây không phải là phương tiện phạm tội nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại xe cho T và ông C xong.

Riêng đối với xe 63V1- 1358, qua điều tra xác định do bà Lê Thị B, sinh năm 1969, đăng ký thường trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang đứng tên sở hữu. Do xe không có liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra tách ra xử lý riêng.

Viện kiểm sát nhân dân ra quyết định chuyển đến Chi cục thi hành án Dân sự huyện Tân Phước quản lý gồm:

  • - Tiền Việt Nam: 480.000 đồng.
  • - 01 thau nhựa màu đỏ; 01 dĩa tròn bằng sứ có hoa văn ở viền màu xanh; 01 cục nhựa hình lục giác được đánh số từ 1 đến 6, có chấm màu đen, đỏ, giữa cục nhựa có thanh trụ nhỏ màu xám; 01 tấm bìa giấy phía sau có đánh số từ 01 đến 06 và 01 tấm chiếu đã qua sử dụng.

Riêng 01 USB chứa video clip ghi hình có âm thanh khi hỏi cung bị cáo được lưu theo hồ sơ vụ án.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 30/CT-VKSTP ngày 24-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo về tội “ Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, Điều 38 các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 06-09 tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 480.000 đồng; tịch thu tiêu huỷ: 01 dĩa tròn bằng sứ có hoa văn ở viền màu xanh, đã qua sử dụng; 01 cục nhựa hình lục giác được đánh số từ 1 đến 6, có chấm màu đen, đỏ, giữa cục nhựa có thanh trụ nhỏ màu xám, đã qua sử dụng; 01 tấm bìa giấy phía sau có đánh số từ 01 đến 06, đã qua sử dụng; 01 tẩm chiếu đã qua sử dụng.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin được cải tạo ở bên ngoài để chăm sóc cha mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Khoảng 23 giờ ngày 25/12/2023, tại nhà bà Phạm Thị L, sinh năm 1937 thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang, bị cáo đã có hành vi đánh bạc cùng với Lê Văn K, Nguyễn Văn C, Trần Văn M, Nguyễn Thị Ngọc L2 và Nguyễn Thị H1, số tiền đánh bạc là 1.050.000 đồng, bị cáo đã có tiền sự về hành vi đánh bạc trái phép.

[3]. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa hôm nay. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “ Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn có cơ sở và đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ của tội phạm: Nhằm mục đích thu lợi bất chính, bị cáo đã có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức lắc bông vụ được thua bằng tiền. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự nơi xảy ra vụ án.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và vai trò của các bị cáo:

  • - Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiện hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo đang trực tiếp chăm sóc có cha mẹ già.
  • - Về nhân thân: Bị cáo đã có 01 tiền sự.

Do đó, Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo với mức án thích đáng, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, đồng thời giáo dục, răn đe, đấu tranh, phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét thấy tội phạm các bị cáo thực hiện là tội ít nghiêm trọng và căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tiền.

[6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối các bị cáo, do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn.

[7] Về vật chứng của vụ án:

  • - Số tiền 480.000 đồng bị cáo cùng các đối tượng dùng để đánh bạc, Hội đồng xét xử tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước;
  • - 01 (một) thau nhựa màu đỏ đã qua sử dụng ; 01 dĩa tròn bằng sứ có hoa văn ở viền màu xanh, đã qua sử dụng; 01 cục nhựa hình lục giác được đánh số từ 1 đến 6, có chấm màu đen, đỏ, giữa cục nhựa có thanh trụ nhỏ màu xám, đã qua sử dụng; 01 tấm bìa giấy phía sau có đánh số từ 01 đến 06, đã qua sử dụng; 01 tấm chiếu đã qua sử dụng không có giá trị sử dụng, Hội đồng xét xử tịch thu tiêu huỷ.

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[8] Về án phí: Do bị cáo bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Ngoài hành vi phạm tội của các bị cáo như đã nêu trên còn các đối tượng khác có liên quan đến vụ đánh bạc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tách hồ sơ chuyển đến Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính là có cơ sở.

[10] Xét phân tích của Kiêm sát viên là phù hợp với nhận định trên, tuy nhiên Hội đồng xét xử chấp nhận đả phân tích như trên, áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo

V các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, các điều 35, 50, các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

    - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).

  2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, các điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 480.000 đồng (bốn trăm tám mươi nghìn đồng).

    - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thau nhựa màu đỏ đã qua sử dụng 01 (một) dĩa tròn bằng sứ có hoa văn ở viền màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) cục nhựa hình lục giác được đánh số từ 1 đến 6, có chấm màu đen, đỏ, giữa cục nhựa có thanh trụ nhỏ màu xám, đã qua sử dụng; 01 (một) tấm bìa giấy phía sau có đánh số từ 01 đến 06, đã qua sử dụng; 01 (một) tấm chiếu đã qua sử dụng.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25-11-2024).

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Ngọc L2 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn K, ông Nguyễn Văn C, chị Nguyễn Thị H1, anh Trần Văn M, chị Nguyễn Thị T1, anh Phạm Văn S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - CA tỉnh;
  • - VKSND huyện Tân Phước;
  • - Công an huyện Tân Phước;
  • - Cơ quan THAHS huyện Tân Phước;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Phước;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Mai Thanh Liêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG về đánh bạc

  • Số bản án: 34/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger