Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH HƯNG

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HS-ST

Ngày 25 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Liễu

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Bùi Đức Hảo
  • Ông Huỳnh Hoàng Lam

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thái Hưng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An tham gia phiên toà: Ông Ngô Anh Duy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh C, sinh ngày 02 tháng 02 năm 1997 tại V, tỉnh Long An; Tên gọi khác: Không có; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp Ông L, xã V, huyện V, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: không nghề nghiệp; Trình độ học vấn: 6/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1972 (đã chết) và bà Trần Thị K, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Ngày 28/9/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 28/4/2023; Tiền sự: Không; Về nhân thân: Ngày 05/6/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 18 tháng, chấp hành xong ngày 11/10/2019. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 01/01/2024 đến ngày 10/01/2024 chuyển tạm giam đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1992. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Long An (có mặt).
  2. Ông Phạm Hiền Đ1, sinh năm 1999. Địa chỉ: Khu phố D, thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An (vắng mặt).

- Người làm chứng: Ông Trần Quan H, sinh năm 2000. Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được thể hiện như sau:

- Cáo trạng số 30/CT-VKSVH ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, với hành vi được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 31/12/2023, Nguyễn Minh C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu đen, biển số: 62D1- 067.06 (xe này Chánh mượn của Phạm Hiền Đ1) đến cổng bến xe khách Kiến Tường thuộc phường A, thị xã K, mua 700.000 đồng ma túy đá và 200.000 đồng ma túy loại Heroin của một người tên K1 (không xác định được họ tên, địa chỉ và số điện thoại), K1 giao ma túy cho Chánh để trong một vỏ bao thuốc lá hiệu JET, K1 nhận 900.000 đồng rồi rời đi. Chánh mở bao thuốc JET ra thì thấy có 05 gói nylon màu trắng được hàn kín hai đầu bên trong chứa ma túy đá, để trong giấy bạc và 02 đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, 01 đoạn bên trong chứa ma túy đá và 01 đoạn bên trong chứa ma túy loại Heroin. Khoảng 24 giờ cùng ngày, C lấy 01 đoạn ống nhựa chứa ma túy đá cắt ra làm hai, sử dụng một phần, phần còn lại Chánh hàn kín lại bỏ vào trong túi áo khoác mượn của Nguyễn Văn M.

Đến khoảng 09 giờ ngày 01/01/2024, C điều khiển xe mô tô tới nhà của Trần Quan H ở khu phố C, thị trấn V tìm Nguyễn Văn M. Chánh trả áo khoác cho M mặc, M điều khiển xe mô tô chở Chánh đi lại đê bao Huỳnh Việt T thuộc ấp B, xã T giáp với đường 30 tháng 4, thị trấn V để gặp bạn. Chánh đưa cho M 10.000 đồng để mua 02 ống kim tiêm, 01 ống nước cất. Cả hai đi xuống đường đất cách đê bao khoảng 20m, Chánh và M ngồi xuống đất kế bên xe mô tô. Chánh lấy bật lửa hơ đầu ống nhựa bung ra rồi đổ 01 cục nhỏ ma túy H1 cho vào lòng bàn tay rồi cho vào 02 ống kim tiêm pha với nước cất, đoạn ống nhựa chứa ma túy còn lại Chánh bật lửa hàn kín để dưới chân. Sau khi pha xong thì C sử dụng bằng cách tự tiêm vào bắp tay. Ống kim tiêm còn lại Chánh đưa M, M cầm lấy và đi vệ sinh. Khi M còn đang cầm ống kim tiêm thì tổ tuần tra Công an thị trấn V kiểm tra và phát hiện bắt quả tang Nguyễn Minh C, có hành vi tàng trữ 05 gói nylon được hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy, 01 đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy, 01 đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma túy, 01 ống bơm kim tiêm bên trong chứa chất lỏng trong suốt nghi là chất ma túy.

Tại kết luận giám định số: 02/KL-KTHS ngày 08/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh L kết luận:

  • “1. Tinh thể màu trắng đựng trong 05 (năm) gói nylon và 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín được đóng gói niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 0,8551 gam, loại: Methamphetamine;
  • 2. Chất bột màu trắng đựng trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,0493 gam, loại: Heroine (H2), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Tại kết luận giám định số 3963/KL-KTHS ngày 12/7/2024 của phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: Chất lỏng đựng trong 01 ống bơm kim tiêm có tìm thấy thành phần chất ma túy, loại: Heroin (Heroine), thể tích 0,3ml. Do thể tích quá ít, không đủ để tiến hành giám định khối lượng chất ma túy (hàm lượng) theo yêu cầu của cơ quan cảnh sát điều tra.

Như vậy, Chánh tàng trữ để sử dụng 02 chất ma túy là M1 và Heroine với tổng trọng lượng là 0,9044 gam.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo: Từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 01/01/2024.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: Bì thư niêm phong nguyên vẹn, có chữ ký của người niêm phong Phạm Anh Đ2, người chứng kiến Phạm Thị Thanh T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh L, bên trong gồm: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng 0,6888 gam (tinh thể) và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 02; Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9, màu xanh, số IMEI 866376040271774 bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy. Giao trả cho Phạm Hiền Đ1 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Exciter, màu trắng - đen, biển số 62D1-067.06, số máy 1S9A-059087, số khung 9A0BY-059076, đã qua sử dụng do ông Đ1 không biết về việc C sử dụng xe đi mua ma túy.

- Ý kiến của bị cáo thống nhất hành vi phạm tội như Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng đã truy tố trong cáo trạng, quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đều tự nguyện khai báo, không bị ép cung nhục hình, bị cáo có nhiều lần sử dụng ma túy, số ma túy bị bắt giữ bị cáo mua để dành sử dụng dần, không ai biết và cũng không có mục đích khác, bị cáo khẳng định bị cáo không rủ rê và cũng không cho ma túy để M sử dụng, việc M đi cùng bị cáo lên đê là do Mong muốn mượn xe của bị cáo.

- Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông M khai: Ngày 01/01/2024 ông có hỏi mượn xe của bị cáo C để đi công việc và có cùng bị cáo C đến đường H thuộc ấp B, xã T giáp với đường 30 tháng 4, thị trấn V tìm bạn. Tại đây bị cáo C có đưa tiền nhờ ông đi mua 02 ống bơm kim tiêm nhưng ông không biết mục đích để làm gì, sau đó ông có nhìn thấy bị cáo C bỏ ma túy vào hai ống kim tiêm và đưa ông giữ 01 ống. Ông không biết gì về số ma túy bị cáo Chánh tàng trữ và cũng không nhìn thấy bị cáo C sử dụng ma túy, đối với ống bơm kim tiêm chứa ma túy bị cáo C đưa thì ông chỉ cầm mà không có ý định sử dụng.

- Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đ1: Ông Đ1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai trong hồ sơ thể hiện: Xe mô tô biển số 62D1- 067.06 mua của người tên P, chưa làm thủ thủ tục sang tên. Trước khi bị cáo C bị bắt thì có gọi điện thoại mượn xe máy nêu trên để sử dụng nhưng do xe đã cầm cố nên ông chuyển cho bị cáo C 4.000.000 đồng để lấy xe về sử dụng cho đến khi bị công an bắt. Ông không biết bị cáo sử dụng xe để mua ma túy, ông xin được nhận lại xe.

- Người làm chứng ông H khai: Ngày 31/12/2023 ông M có ngủ nhờ tại nhà ông, sau đó có bị cáo C đến tìm rủ đi uống cà phê, không nghe và cũng không biết Chánh có rủ rê Mong sử dụng ma túy hay không, ngoài ra ông không biết thêm gì về việc vi phạm của bị cáo C.

Thực hiện quyền được nói lời sau cùng bị cáo nói: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái nên rất ăn năn, xin được xử mức án nhẹ để sớm về chăm lo cho mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  • [1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • [2] Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đ1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng hồ sơ đã có đầy đủ lời khai, tài liệu chứng cứ liên quan, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến xét xử vụ án nên căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ1.
  • [3] Về hành vi phạm tội: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ. Cụ thể: Sau khi liên lạc với người bán ma túy tên K1 bằng điện thoại di động hiệu OPPO F9, màu xanh (không còn nhớ số điện thoại) thì khoảng 22 giờ ngày 31/12/2023, bị cáo C điều khiển xe mô tô biển số: 62D1- 067.06 đến cổng bến xe khách Kiến Tường thuộc phường A, thị xã K gặp K1 mua 700.000 đồng ma túy đá và 200.000 đồng ma túy loại Heroin để đem về sử dụng. Đến khoảng 09 giờ ngày 01/01/2024, bị cáo C đến đê bao Huỳnh Việt T thuộc ấp B, xã T giáp với đường 30 tháng 4, thị trấn V để sử dụng ma túy thì Tổ tuần tra Công an thị trấn V phát hiện bắt quả tang vào lúc 11 giờ 00 phút cùng ngày và thu giữ tang vật có liên quan. Kết quả giám định của Phòng K2 Công an tỉnh L đối với tang vật thu giữ được như sau: 05 gói nylon và 01 đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín được đóng gói niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 0,8551 gam, loại: Methamphetamine; Chất bột màu trắng đựng trong 01 đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,0493 gam, loại: Heroine (Heroin); Chất lỏng đựng trong 01 ống bơm kim tiêm có tìm thấy thành phần chất ma túy, loại: Heroin (Heroine).
  • Bị cáo C đã có hành vi tàng trữ 02 chất ma túy là M1 và Heroine với tổng trọng lượng là 0,9044 gam với mục đích để sử dụng, hành vi của bị cáo C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng số 30/CT-VKSVH ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng và tại phiên tòa đề nghị truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
  • [4] Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi, bị cáo có đủ nhận thức về tác hại của ma túy và quy định của pháp luật về phòng, chống ma túy, bản thân bị cáo cũng từng bị xử phạt tù về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng, thể hiện sự coi thường pháp luật. Hành vi phạm tội do bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý chất ma túy, là một trong các nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác cùng các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, đối với bị cáo cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc mới có khả năng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, để có hình phạt tương xứng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cũng cần xem xét, đánh giá tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo
  • [5] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải có ông, bà là người có công cách mạng đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • [6] Về tình tiết tăng nặng: Ngày 28/9/2021 bị cáo C bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 28/4/2023 nên tính đến lần phạm tội này bị cáo C thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • [7] Từ các phân tích nêu trên, khẳng định hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với tính chất mức độ của hành vi phạm tội.
  • [8] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Chánh sinh sống bằng công việc làm thuê, không có thu nhập ổn định, mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự là phù hợp.
  • [9] Về vật chứng của vụ án: Theo quy định tại khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Cần tịch thu tiêu hủy Bì thư niêm phong nguyên vẹn, có chữ ký của người niêm phong Phạm Anh Đ2, người chứng kiến Phạm Thị Thanh T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh L, bên trong gồm: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng 0,6888 gam (tinh thể) và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 02.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9, màu xanh, số IMEI 866376040271774 và 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Exciter, màu trắng - đen, biển số 62D1-067.06, số máy 1S9A-059087, số khung 9A0BY-059076, đã qua sử dụng, bị cáo sử dụng để liên lạc và làm phương tiện đi mua ma túy nên cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước. Việc ông Đ2 chuộc lại xe từ tiệm cầm đồ cho bị cáo C mượn để sử dụng là các giao dịch dân sự nên các bên có quyền tự thỏa thuận với nhau để giải quyết vụ việc, trường hợp phát sinh tranh chấp thì khởi kiện bằng 01 vụ án dân sự.
  • [10] Đối với lời khai Chánh có rủ và đưa ma túy cho M sử dụng nhưng qua đối chất tại phiên tòa thì Chánh không rủ và không đưa ma túy cho M sử dụng, ống kim tiêm vẫn còn nguyên dung dịch ma túy mà C đã pha chế. Khi đi cùng bị cáo C lên đường đê thì M cũng không biết bị cáo C có ma túy và sẽ sử dụng ma túy. Vì vậy không đủ căn cứ để xác định bị cáo C có rủ rê và cung cấp ma túy, dụng cụ cho ông M sử dụng trái phép chất ma túy nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • [11] Đối với Mong không được bị cáo C rủ rê, không có ý định sử dụng ma túy và cũng không biết gì về số lượng ma túy mà Chánh tàng trữ nên không xem xét vai trò đồng phạm là có căn cứ. Đối với ống kim tiêm có chứa chất lỏng mà bị cáo C đưa M cầm trên tay từ khi C đưa cho đến khi bị bắt quả tang được giám định và kết luận có tìm thấy thành phần chất ma túy, loại: Heroin (Heroine), thể tích 0,3ml nhưng thể tích quá ít, không đủ để tiến hành giám định khối lượng chất ma túy (hàm lượng) nên không đủ căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với Mong nhưng cũng cần kiến nghị cơ quan Công an xem xét xử lý đối hành vi trên của M.
  • [12] Đối với người bán ma túy cho bị cáo C tên K1 không rõ tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V chưa có căn cứ xác minh để xử lý là phù hợp.
  • [13] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh C không thuộc trường hợp được miễn giảm án phí nên bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng vào điểm i khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 01/01/2024.

Áp dụng Điều 329 Bộ Luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Minh C để đảm bảo cho việc thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 25 tháng 9 năm 2024.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Bì thư niêm phong nguyên vẹn, có chữ ký của người niêm phong Phạm Anh Đ2, người chứng kiến Phạm Thị Thanh T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh L, bên trong gồm: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng 0,6888 gam (tinh thể) và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 02.

Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Exciter, màu trắng - đen, biển số 62D1-067.06, số máy 1S9A-059087, số khung 9A0BY-059076, dung tích 134, tình trạng đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9, màu xanh, số IMEI 866376040271774.

Các vật chứng nêu trên hiện đang do Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Vĩnh Hưng đang quản lý.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Buộc bị cáo Nguyễn Minh C phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Bị cáo Nguyễn Minh C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Hiền Đ1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Long An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An;
  • - VKSND, CCTHADS, Công an/H;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QL,NVLQ;
  • - Lưu: HS, án văn.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Xuân Liễu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 34/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự Sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Chánh tàng trữ để sử dụng 02 chất ma túy là Methamphetamine và Heroine với tổng trọng lượng là 0,9044 gam, bị xử phạt 03 năm tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger