Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỌ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 34/2024/HS-ST

Ngày: 23 - 4 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đăng Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sâm

Ông Lê Đăng Thiện

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân .

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân tham gia phiên tòa:

Ông Đỗ Tiến Dũng - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ xuân, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLST - HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST - HS ngày 10/4/2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn T, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1981 tại xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn B, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H (đã chết) và bà: Phạm Thị L, sinh năm 1954; Gia đình có 04 người con, bị cáo là con thứ 03; Vợ: Nguyễn Thị B, sinh năm 1987; có 05 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không;

    Nhân thân: Ngày 25/6/2020 bị cáo bị Công an xã X ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi khai thác khoáng sản trái phép bằng hình thức Cảnh cáo.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

    Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa

  2. Hà Văn H1, sinh ngày 15 tháng 01 năm 1975 tại xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn X, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hà Văn N, sinh năm 1949 và bà: Lê Thị L1 (đã chết); Gia đình có 05 người con, bị cáo là con thứ 04; Vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1982; có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

    Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa

  3. Hà Văn L2, sinh ngày 06 tháng 10 năm 1986 tại xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn X, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hà Văn C, sinh năm 1963 và bà: Bùi Thị T2, sinh năm 1964; Gia đình có 03 người con, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Lê Thị H2, sinh năm 1990; có 03 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

    Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa

  4. Tạ Văn T3, sinh ngày 16 tháng 8 năm 1989 tại xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn B, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Tạ Văn T4, sinh năm 1966 và bà: Đỗ Thị B1, sinh năm 1970; Gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Hoàng Thị T5, sinh năm 1996; có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

    Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa

  5. Nguyễn Văn S, sinh ngày 25 tháng 2 năm 1982 tại xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn B, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Là Đảng viên Đ, sinh hoạt tại chi bộ Quân sự, Đảng bộ xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng từ ngày 09/4/2024. Con ông: Nguyễn Văn A, sinh năm 1959 và bà: Lữ Thị L3, sinh năm 1958; Gia đình có 03 người con, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị T6, sinh năm 1984; có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

    Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa

  6. Nguyễn Ngọc K, sinh ngày 02 tháng 8 năm 1972 tại xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn B, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Ngọc C1 (đã chết) và bà: Lê Thị H3, sinh năm 1946; Gia đình có 05 người con, bị cáo là con thứ 02; Vợ: Phạm Thị N1, sinh năm 1973;có 03 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: Không;

    Nhân thân: Ngày 02/5/1994 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xử phạt 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Đã chấp hành xong hình phạt, án phí HSST và DSST, đã bồi thường phần dân sự.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

    Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa

  7. Hà Văn H4, sinh ngày 15 tháng 4 năm 1978 tại xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn X, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hà Văn Q (đã chết) và bà: Lê Thị G, sinh năm 1937; Gia đình có 08 người con, bị cáo là con thứ 07; Vợ: Nguyễn Thị H5, sinh năm 1985; có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

    Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa

  8. Hà Văn L4, sinh ngày 28 tháng 4 năm 1979 tại xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn X, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Là Đảng viên Đ, sinh hoạt tại chi bộ thôn X, Đảng bộ xã X; Đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng từ ngày 09/4/2024. Con ông: Hà Ngọc T7, sinh năm 1949 và bà: Đỗ Thị T8, sinh năm 1955; Gia đình có 03 người con, bị cáo là con thứ 02; Vợ: Đỗ Thị N2, sinh năm 1985; có 03 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Cá bị cáo đều tại ngoại, có mặt tại phiên tòa

- Người làm chứng: Anh Lê Văn H6, sinh năm 1985.

Nơi cư trú: Thôn X, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 15/01/2024, Hà Văn L4 liên hoan hội công thợ và mời Nguyễn Văn T, Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Văn S, Tạ Văn T3, Hà Văn L2, Hà Văn H1, Hà Văn H4, Lê Văn H6 và một số người khác cùng trú tại xã X, huyện T đến nhà tham dự. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày thì ăn uống xong, các đối tượng ngồi hát tại phòng khách. Lúc này, Trương hỏi mọi người “có bài ta làm tý”. Hiểu ý Trương rủ đánh bạc ăn tiền thì mọi người đồng ý. T nói với L4 “lấy cho tau cỗ bài” thì L4 đồng ý và đi sang nhà bà Đỗ Thị T8 (sinh năm 1955, là mẹ đẻ), bán hàng tạp hóa ở bên cạnh mua 02 bộ bài tú lơ khơ. Lượng mua bài về đưa cho T, T đang hát nên để bài xuống bàn uống nước. H1 lấy chiếc chiếu nhựa ở phòng bếp đem trải ở phòng ngủ. Lơ cầm hai bộ bài vào để xuống chiếu còn T, S, K, H4, T3 vào sau. H6 ngồi xem nhưng không chơi. L4 ở ngoài phòng khách không tham gia. Các đối tượng đánh bạc đến 23 giờ cùng ngày thì bị tổ tuần tra 282 Công an huyện T bắt quả tang. Tổ tuần tra đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ: 01 chiếc chiếu nhựa; 01 bộ bài tú lơ khơ; thu tại chiếu bạc 8.220.000đ; thu trên người Hà Văn L2 1.100.000đ, 01 điện thoại di động; thu trên người Hà Văn H1 1.000.000đ, 01 điện thoại di động; thu trên người Hà Văn L4 660.000đ, 01 điện thoại di động; thu trên người Nguyễn Văn S 01 điện thoại di động; thu trên người Tạ Văn T3 01 điện thoại di động; thu trên người Nguyễn Ngọc K 01 điện thoại di động; thu trên người Lê Văn H6 1.100.000đ, 01 điện thoại di động.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T, Hà Văn H1, Hà Văn L2, Tạ Văn T3, Nguyễn Văn S, Nguyễn Ngọc K, Hà Văn H4 khai nhận số tiền 8.220.000đ thu tại chiếu bạc và số tiền 2.100.000đ thu trên người L2H1 dùng để đánh bạc, tổng là 10.320.000đ. Trong đó, H1 sử dụng khoảng 2.200.000đ; T3 sử dụng khoảng 2.000.000đ; L2 sử dụng khoảng 1.700.000đ; S sử dụng khoảng 1.200.000đ; T sử dụng khoảng 1.100.000đ; K sử dụng khoảng 640.000đ; H4 sử dụng khoảng 530.000đ để đánh bạc.

Các đối tượng thống nhất đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng”, mỗi ván “đặt cửa” là 10.000đ, tố cao nhất đến 200.000đ, thắng thua thanh toán trực tiếp tại chiếu bạc. Sử dụng 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân chia đều cho mỗi người chơi 03 quân bài. Khi bắt đầu chơi thì mỗi người bỏ ra 10.000 đồng để đặt cửa. Những người chơi sẽ xem bài, người chia bài được quyền thêm tiền (tối da 200.000đ) hoặc úp bài sau đó lần lượt đến người chơi còn lại tố. Người sau có thể tố thêm tiền so với người tố trước cho đến khi không còn ai tố nữa thì bỏ bài ra so sánh thắng thua. Sáp là to nhất (03 cây bài giống nhau nhưng khác chất), tiếp đến là liêng (03 cây bài liền nhau), sau đó đến tranh ảnh (03 cây bài đầu người nhưng không liền nhau); tiếp là tính điểm từ 09 điểm trở xuống đến 0 điểm là bé nhất; A là 01 điểm; các lá bài 10, J, Q, K là 0 điểm. Người nào thắng sẽ được toàn bộ số tiền đã bỏ ra trước đó và tiền tố thêm của người chơi khác và tiếp tục đánh ván mới.

Đối với số tiền 10.980.000đ, cơ quan điều tra đã tiến hành giám định. Tại kết luận giám định số 389/KL-KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận tổng số tiền gửi giám định là tiền thật.

Đối với vật chứng và các đồ vật có liên quan trong vụ án gồm: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây đã qua sử dụng; 01 bộ bài tú lơ khơ chưa qua sử dụng; 01 chiếc chiếu nhựa; số tiền 10.980.000đ hiện đang được quản lý theo quy định của pháp luật.

Cáo trạng số 38/CT- VKSTX ngày 02/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố các bị cáo: Nguyễn Văn T, Hà Văn H1, Hà Văn L2, Tạ Văn T3, Nguyễn Văn S, Nguyễn Ngọc K, Hà Văn H4Hà Văn L4 về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn T, Hà Văn H1, Hà Văn L2, Tạ Văn T3, Nguyễn Văn S, Nguyễn Ngọc K, Hà Văn H4Hà Văn L4 đều khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Văn T, Hà Văn H1, Hà Văn L2, Tạ Văn T3, Nguyễn Văn S, Nguyễn Ngọc K, Hà Văn H4Hà Văn L4 phạm tội: “Đánh bạc”;

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Hà Văn H1, Hà Văn L2, Tạ Văn T3, Nguyễn Văn S, Nguyễn Ngọc K, Hà Văn H4Hà Văn L4. Áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Hà Văn H1, Hà Văn L2, Tạ Văn T3, Nguyễn Văn S, Hà Văn H4Hà Văn L4. Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc K. Đề nghị xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn TNguyễn Ngọc K từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24tháng. Đề nghị xử phạt các bị cáo Hà Văn H1, Hà Văn L2Tạ Văn T3 từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ; Đề nghị xử phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo: Nguyễn Văn S, Hà Văn H4Hà Văn L4. Mỗi bị cáo từ 20.000.000đ đến 30.000.000đ. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo, do các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của UBND nơi các bị cáo cư trú.

Buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định pháp luật; Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Các bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra. Đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản thu giữ tang vật, lời khai của những người làm chứng đều phản ánh thống nhất khách quan: Ngày 15/01/2024, Nguyễn Văn T, Hà Văn H1, Hà Văn L2, Tạ Văn T3, Nguyễn Văn S, Nguyễn Ngọc K, Hà Văn H4 đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh bài “Liêng” ăn tiền tại nhà Hà Văn L4 ở thôn X, xã X, huyện T. Số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 10.320.000 đồng. Nguyễn Văn T là người khởi xướng, Hà Văn L4 là người chuẩn bị công cụ và cho các đối tượng đánh bạc tại nhà mình là đồng phạm với vai trò giúp sức. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng, do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội mà mình đã gây ra.

Vì vậy có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Các bị cáo: Nguyễn Văn T, Hà Văn H1, Hà Văn L2, Tạ Văn T3, Nguyễn Văn S, Nguyễn Ngọc K, Hà Văn H4Hà Văn L4 phạm tội: "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đều nhằm mục đích lợi nhuận, thắng thua sát phạt lẫn nhau bằng hình thức đánh bạc ăn tiền. Hành vi đó đã xâm phạm trật tự trị an, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý bất bình trong quần chúng nhân dân. Đây là một tệ nạn xã hội thường dẫn đến các hậu quả xấu và các loại tội phạm nghiêm trọng khác. Vì vậy cần phải xử phạt nghiêm minh để giáo dục các bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.

[4] Về vai trò thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo: Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của các bị cáo không phải là trường hợp có tổ chức mà chỉ là đồng phạm giản đơn. Các bị cáo tham gia đánh bạc với vai trò và mức độ phạm tội khác nhau nên các bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo.

Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Văn T là người khởi xướng, rủ các bị cáo đánh bạc và tham gia đánh bạc từ đầu nên xếp vai trò thứ nhất trong vụ án. Do đó phải chịu mức hình phạt cao nhất. Các bị cáo Hà Văn H1, Hà Văn L2Tạ Văn T3 tham gia đánh bạc với số tiền nhiều nhất nên ba bị cáo xếp vai trò thứ hai trong vụ án. Do đó bị cáo Hà Văn H1, Hà Văn L2Tạ Văn T3 phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo còn lại.

Các bị cáo Nguyễn Văn S, Nguyễn Ngọc KHà Văn H4 tham gia đánh bạc với số ít nhất trong vụ án và bị cáo Hà Văn L4 tuy không tham gia đánh bạc nhưng là người chuẩn bị công cụ và cho các đối tượng đánh bạc tại nhà mình là đồng phạm với vai trò giúp sức nên xếp vai trò ngang nhau và xếp vai trò sau cùng trong vụ án. Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc K, ngày 02/5/1994 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc K 06 tháng tù đã về tội “Cố ý gây thương tích” nên lần phạm tội này phải áp dụng hình phạt cao hơn các bị cáo khác mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo thành người tốt và mới có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì HĐXX thấy rằng: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đều khai báo thành khẩn; Các bị cáo Nguyễn Văn T, Hà Văn H1, Hà Văn L2, Tạ Văn T3, Nguyễn Văn S, Hà Văn H4Hà Văn L4 đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Ngọc K có bố là ông Nguyễn Ngọc C1 đã tham gia kháng chiến và được Hội đồng nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba và mẹ là bà Lê Thị H3 đã tham gia kháng chiến và được Hội đồng bộ trưởng tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất nên được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. HĐXX sẽ giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.

[6] Về hình phạt:

Đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Hà Văn H1, Hà Văn L2, Tạ Văn T3, Nguyễn Văn S, Hà Văn H4Hà Văn L4 đều có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Nguyễn Ngọc K mặc dù có nhân thân từ năm 1994 bị xét xử về tội: “Cố ý gây thương tích” nhưng tính đến lần phạm tội này đã gần 30 năm nay luôn chấp hành tốt các quy định của pháp luật; Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có lý lịch và nơi cư trú rõ ràng nên HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly xã hội đối với các bị cáo mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo Đối với bị cáo Nguyễn Văn TNguyễn Ngọc K theo 65 Bộ luật Hình sự; áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Hà Văn H1, Hà Văn L2, Tạ Văn T3 theo Điều 36 Bộ luật Hình sự; áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo Nguyễn Văn S, Hà Văn H4Hà Văn L4 theo Điều 35 Bộ luật Hình sự là phù hợp, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát giáo dục cũng đủ điều kiện để giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều có hoàn cảnh, điều kiện kinh tế khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án là 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây đã qua sử dụng, 01 chiếc chiếu nhựa màu xanh, vàng, đỏ đã qua sử dụng là công cụ phương tiện phạm tội; 01 bộ bài tú lơ khơ chưa qua sử dụng nhưng không có giá trị nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 10.980.000đ Hội đồng xét xử xác định có 10.320.000₫ là tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc nên căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Số tiền còn lại 660.000₫ thu của bị cáo Hà Văn L4, không liên quan đến tội phạm nên cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo L4. Số vật chứng còn lại gồm 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây đã qua sử dụng, 01 chiếc chiếu nhựa màu xanh, vàng, đỏ đã qua sử dụng là công cụ phương tiện phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tich thu tiêu huỷ.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015

- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Hà Văn H1, Hà Văn L2, Tạ Văn T3, Nguyễn Văn S, Nguyễn Ngọc K, Hà Văn H4Hà Văn L4 phạm tội: "Đánh bạc"

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Văn T;

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 BLHS đối với bị cáo đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc K

- Xử phạt:

  • + Bị cáo Nguyễn Văn T 09 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;
  • + Bị cáo Nguyễn Ngọc K 08 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 36 BLHS đối với các bị cáo Hà Văn H1, Hà Văn L2, Tạ Văn T3;

- xử phạt:

  • + Bị cáo Hà Văn H1 12 tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ đi 09 ngày quy đổi từ 03 ngạy bị tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 11 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự nhận được Quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
  • + Bị cáo Hà Văn L2 10 tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ đi 09 ngày quy đổi từ 03 ngạy bị tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 09 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự nhận được Quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
  • + Bị cáo Tạ Văn T3 09 tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ đi 09 ngày quy đổi từ 03 ngạy bị tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 08 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự nhận được Quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 BLHS đối với các bị cáo Nguyễn Văn S, Hà Văn H4Hà Văn L4;

  • + Phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn S 30.000.000 đồng.
  • + Phạt tiền bị cáo Hà Văn H4 20.000.000 đồng.
  • + Phạt tiền bị cáo Hà Văn L4 20.000.000 đồng.

Giao các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Ngọc K, Hà Văn H1, Hà Văn L2, Tạ Văn T3 cho UBND xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách và thời gian cải tạo không giam giữ. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015;

Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây đã qua sử dụng; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây chưa qua sử dụng; 01 chiếc chiếu nhựa xanh, vàng, đỏ đã qua sử dụng; Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 10.320.000đ. Trả lại cho bị cáo Hà Văn L4 số tiền 660.000₫.

Toàn bộ số vật chứng trên được thể hiện theo Biên bản giao nhận vật chứng số 59 ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Hà Văn H1, Hà Văn L2, Tạ Văn T3, Nguyễn Văn S, Nguyễn Ngọc K, Hà Văn H4Hà Văn L4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST sung ngân sách nhà nước.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Thọ Xuân
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa
  • - THA dân sự;
  • - THA hình sự Công an huyện Thọ Xuân
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Đăng Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 34/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Trương và đồng phạm - Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger