Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẾ SƠN

TỈNH QUẢNG NAM

Bản án số: 34/2024/HS-ST

Ngày 30/10/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trương Thị Sen.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lê Quang Hòa.
  2. Ông Lưu Văn Thành.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Hồ Thu Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Hướng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Đoàn Công N, sinh ngày 01/4/1991 tại huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: thợ thạch cao; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Công T, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1968; vợ Thái Thị H, sinh năm 1987 và có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
  2. Đoàn Công S, sinh ngày 13/9/2000 tại huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: thợ thạch cao; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Công T, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1968; vợ Phạm Thị H1, sinh năm 2001 và có 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú".

Nhân thân: ngày 28/02/2020 bị Công an quận L, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe người khác tại Quyết định số 08/QĐ-XPVPHC, nộp phạt xong ngày 04/3/2020.

Bị hại: anh Phan Văn L, sinh năm 1995; địa chỉ: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.

Người làm chứng:

  • - Anh Lê Khắc N1, sinh năm 2000; địa chỉ: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
  • - Anh Huỳnh Văn D, sinh năm 1996; địa chỉ: thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
  • - Anh Nguyễn Thế V, sinh năm 1994; địa chỉ: thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
  • - Anh Võ Vương L1, sinh năm 1997; địa chỉ: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
  • - Chị Văn Thị Diệu T2, sinh năm 1995; địa chỉ: khối phố M, thị trấn N, huyện D, tỉnh Quảng Nam.

Tại phiên tòa, các bị cáo, người làm chứng anh N1 và anh D có mặt; người bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; những người tham gia tố tụng khác đều vắng mặt không có lí do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 01/8/2023, Phan Văn L đến quán N2 thuộc thôn B, xã Q, huyện Q để nhậu cùng với Võ Vương L1. Tại đây, L gặp bị cáo S đang ngồi nhậu cùng với Huỳnh Văn D và Lê Khắc N1. Trong lúc ngồi nhậu, bị cáo Đoàn Công S có qua bàn của L để mời bia rồi xảy ra lời qua tiếng lại. L1 đòi đánh bị cáo S nhưng L ngăn cản. Bị cáo S đi về bàn nhậu của mình và gọi điện thoại cho anh ruột là bị cáo Đoàn Công N đến để dẫn về vì có người đòi đánh S. Nghe vậy, bị cáo N vào nhà lấy 01 con dao màu đen dài khoảng 50cm và 01 thanh sắt dài khoảng 60cm rồi điều khiển xe môtô biển số 92G1-345.46 đi đến khu phố chợ B. Lúc này khoảng 22 giờ, bàn nhậu của L thanh toán tiền đi về thì bị cáo S nói với L để L1 lại nói chuyện thì L không đồng ý và cầm ly thủy tinh chỉ về phía S, S đứng dậy cầm ghế nhựa ném vào người của L rồi bỏ chạy ra hướng đường Q. Bị cáo S chạy ra đường thì gặp bị cáo N vừa đi đến, N hỏi “Ai ví mi chạy rứa” thì S chỉ tay về hướng quán nhậu 95 nơi L đang đứng. Bị cáo N đưa cho S thanh sắt còn N cầm con dao chạy đến vị trí L đang đứng. Bị cáo S chạy tới đứng đối diện với L (khoảng cách khoảng 01 mét), trên tay cầm thanh sắt đánh từ trên xuống trúng vào người L; N từ sau chạy đến đứng đối diện với L (khoảng cách khoảng 01 mét), trên tay phải cầm dao đánh từ trên xuống trúng vào vùng đầu của L. L ôm người S lại, hai bên giằng co thì N lao vào đánh L, L thả S ra và lao vào ôm giữ N thì bị S đánh. Trong lúc bị cáo N và L đang giằng co thì bị cáo S đuổi đánh L1 nhưng L1 bỏ chạy được. Sau đó, L chạy trốn vào quán bida gần đó, N và S đứng ngoài quán bida một lúc rồi đi về, L1 chở L đi cấp cứu tại Bệnh viện B1. Ngày 02/8/2023, anh L đã làm đơn báo cáo gửi đến cơ quan Công an.

Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 771/KLTTCT-TTPY ngày 05/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Q kết luận thương tích của anh L gồm: 01 sẹo kích thước trung bình vùng đỉnh – thái dương trái (tỷ lệ 2%); mẻ bản ngoài xương hộp sọ vùng đỉnh trái (tỷ lệ 07%); 01 sẹo kích thước trung bình vùng cổ bên trái (tỷ lệ 4%); 01 sẹo kích thước nhỏ mặt gan bàn tay phải trên nền đốt 1, ngón 1 (tỷ lệ 1%). Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phan Văn L tại thời điểm giám định là 13%.

Về cơ chế hình thành vết thương:

  • + Thương tích vùng đỉnh – thái dương trái là do vật sắc cạnh tác động gây nên, lực tác động tương đối mạnh. Hướng từ trên xuống dưới, từ trái sang phải.
  • + Thương tích vùng cổ bên trái, tương ứng đầu trên cơ ức đòn chũm là do vật sắc cạnh tác động gây nên, lực tác động vừa phải. Hướng từ trái sang phải.
  • + Thương tích mặt gan bàn tay phải, trên nền đốt 1 ngón 1 là do vật sắc cạnh tác động gây nên, lực tác động vừa phải. Hướng từ trước ra sau.

Tại Công văn số 88/GĐPY ngày 11/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Q nhận định:

  • + Với các tổn thương trên cơ thể của Phan Văn L, trong đó có vết thương vùng đỉnh – thái dương trái gây mẻ bản ngoài xương hộp sọ nhưng chưa tổn thương đến tổ chức não bên trong và các vết thương phần mềm đơn giản nên có thể không gây nguy hiểm đến tính mạng nếu không được cấp cứu kịp thời.
  • + Vùng cổ bên trái, tương ứng đầu trên cơ ức đòn chũm có vết thương đã lành sẹo có chỗ lồi, không liên tục dài 3,8cm rộng trung bình 0,3cm là do vật sắc cạnh tác động gây nên, lực tác động vừa phải. Hướng từ trái sang phải. Việc S dùng thanh sắt bằng kim loại dài khoảng 60cm, không có lưỡi, không có mũi nhọn như đã mô tả ở trên khó có thể tạo ra được tổn thương này.

Bản cáo trạng số 29/CT-VKSQS ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn đã truy tố các bị cáo Đoàn Công N, Đoàn Công S về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 54 Bộ luật Hình sự: tuyên bố các bị cáo Đoàn Công N, Đoàn Công S phạm tội “Cố ý gây thương tích”; xử phạt Đoàn Công N từ 15 – 18 tháng tù, Đoàn Công S từ 12 – 15 tháng tù; về xử lý vật chứng: đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và bản cáo trạng của Viện kiểm sát, không trình bày lời bào chữa và không tham gia tranh luận gì.

Các bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử kết luận:

Vào khoảng 22 giờ ngày 01/8/2023, tại quán N2 thuộc thôn B, xã Q, huyện Q, vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong lúc nhậu, các bị cáo N và S đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm cùng đánh anh Phan Văn L gây thương tích cho anh L với tỷ lệ 13%. Hành vi của các bị cáo không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ nên là đồng phạm giản đơn. Hành vi nêu trên của các bị cáo N, S có tính chất côn đồ và dùng hung khí nguy hiểm xâm phạm đến sức khỏe của người khác, đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự như nội dung bản cáo trạng số 29/CT-VKSQS ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo: hành vi của các bị cáo xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, gây bất bình trong nhân dân. Do vậy, cần phải xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Trong vụ án này, bị cáo N thực hiện hành vi phạm tội tích cực và là người trực tiếp gây ra thương tích cho bị hại nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo S.

[4]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: N và S đều không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo N có nhân thân tốt; bị cáo S có nhân thân xấu, năm 2020 đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Tuy nhiên cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 con dao dài 50cm, cán dao bằng gỗ dài 13cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 37cm, lưỡi dao có một cạnh sắc, nơi rộng nhất của lưỡi dao là 6,6cm sắc là công cụ, phương tiện phạm tội và 01 con dao dài 36,5cm có một cạnh sắc không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu trắng bên trong có gắn 01 sim số 0776.709.644 của bị cáo S, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tuyên trả lại cho bị cáo S.
  • - Đối với 01 đoạn video ghi lại vụ đánh nhau tại quán N2 vào ngày 01/8/2023 (video do chị Văn Thị Diệu T2 - chủ quán nhậu 95 giao nộp) và 01 đoạn video liên quan đến vụ đánh nhau tại quán N2 vào ngày 01/8/2023 (video do anh Đoàn Ca H2 - chủ quán bida bên cạnh quán N2 giao nộp) cần tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

[8]. Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố: các bị cáo Đoàn Công N, Đoàn Công S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Xử phạt: bị cáo Đoàn Công N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

    Xử phạt: bị cáo Đoàn Công S 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

  2. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:
    • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 con dao dài 50cm, cán dao bằng gỗ dài 13cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 37cm, lưỡi dao có một cạnh sắc, nơi rộng nhất của lưỡi dao là 6,6cm và 01 con dao dài 36,5cm, có một cạnh sắc.
    • - Trả lại cho bị cáo S: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu trắng bên trong có gắn 01 sim số 0776.709.644.

    (Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Sơn theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 21/10/2024).

    • - Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 đoạn video ghi lại vụ đánh nhau tại quán N2 vào ngày 01/8/2023 (video do chị Văn Thị Diệu T2 - chủ quán nhậu 95 giao nộp) và 01 đoạn video liên quan đến vụ đánh nhau tại quán N2 vào ngày 01/8/2023 (video do anh Đoàn Ca H2 - chủ quán bida bên cạnh quán N2 giao nộp).
  3. Về án phí: căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/10/2024). Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT;
  • - TAND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND huyện Quế Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Quế Sơn;
  • - Văn phòng Công an huyện Quế Sơn;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Quế Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam;
  • - Bị cáo, người TGTT khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Sen

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 34/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đoàn Công N cùng đồng bọn phạm tội "Cố ý gây thương tích"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger