Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN N

TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HS-ST

Ngày 25 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Hoà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Sinh và bà Bùi Thị Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Huyền Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Thượng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử 1, Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2024/TLST-HS, ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Dương Văn P (Tên gọi khác: Không); sinh ngày 03 tháng 7 năm 19xx, tại xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm S, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (Học vấn): Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn M và bà Dương Thị T; vợ là Dương Thị H (Đã ly hôn) và 01 con; tiền án: 02; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19/12/2016 bị Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính bằng Quyết định số: 0081978/QĐ-XPHC với hình thức phạt tiền về hành vi trộm cắp tài sản, đến ngày 27/12/2016 chấp hành xong; ngày 14/9/2017 Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số: 18/2017/QĐ – TA và đã chấp hành xong vào ngày 14/9/2018. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/6/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 13 giờ 50 phút ngày 09/6/2024, tại đường liên thôn đi thôn K thuộc tổ nhân dân P, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Công an huyện N đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát thực hiện Tháng hành động phòng, chống ma túy thì phát hiện bắt quả tang Dương Văn P một mình điều khiển xe mô tô BKS 20G1-313.xx đi theo hướng ra Trung tâm thị trấn Y tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ: 02 gói giấy, trong đó có 01 gói giấy có một mặt màu xanh đen có nhiều họa tiết không rõ hình dạng, một mặt màu trắng; 01 gói còn lại gói bằng giấy màu trắng có dòng kẻ và họa tiết màu đỏ không rõ hình dạng, bên trong 02 gói giấy này đều chứa chất màu trắng dạng bột được P cất giấu trong túi quần soóc phía trước bên phải P đang mặc. Tổ công tác trích một lượng nhỏ chất màu trắng dạng bột của một trong hai gói bất kỳ để thử với thuốc thử ma túy do Bộ Công an cấp, kết quả xác định là ma túy (Heroine). Tổ công tác đã gói lại 02 gói trên như ban đầu và niêm phong trong phong bì kí hiệu A1; tạm giữ, niêm phong trong phong bì ký hiệu A2 01 bơm kim tiêm loại sử dụng một lần 3ml/cc còn nguyên nilon chưa qua sử dụng tại giỏ xe cánh yếm bên trái xe mô tô BKS 20G1 – 313.24 và 01 chiếc xe mô tô BKS 20G1 – 313.24.

Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy lập hồi 15 giờ 35 phút ngày 09/6/2024 đối với Dương Văn P có kết quả xét nghiệm: Dương Tính với Hêrôin.

Hồi 16 giờ 00 phút ngày 09/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành mở niêm phong phong bì ký hiệu A1 và cân xác định khối lượng số chất màu trắng dạng bột thu được trên người Dương Văn P. Kết quả số chất màu trắng dạng bột trong phong bì kí hiệu A1 có khối lượng là 0,149g. Sau đó tiến hành niêm phong trong phong bì có kí hiệu là B1 để gửi giám định theo quyết định trưng cầu giám định số 188/QĐ-ĐCSHS-KTMT ngày 09/6/2024. Số vật chứng còn lại gồm 01 mảnh giấy có một mặt màu xanh đen có nhiều họa tiết không rõ hình thù, một mặt màu trắng không xác định hình dạng; 01 mảnh giấy một mặt màu trắng có dòng kẻ và họa tiết màu đỏ không xác định hình dạng, 01 phong bì ký hiệu A1 đã mở niêm phong được cho vào 01 phong bì mới niêm phong ký hiệu B2.

Hồi 17 giờ 45 phút, ngày 09/6/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp số 67/LKX-ĐCSHS-KTMT ngày 09/6/2024 đối với nơi ở và công trình phụ cận có liên quan của Dương Văn P tại mỏ đá L thuộc thôn P, xã C, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại Kết luận giám định số 206/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng bột trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy; loại Heroine (Heroin) có khối lượng là: 0,149g. Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại: 0,105g cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T128 hoàn trả lại cho Cơ quan trưng cầu.

Quá trình điều tra, bị can Dương Văn P khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đúng như các tài liệu, chứng cứ có hồ sơ vụ án. Cụ thể: Khoảng 12 giờ ngày 09/6/2024, P điều khiển xe mô tô BKS 20G1-313.xx đi từ mỏ đá xã C nơi P làm việc vào khu vực đường đi động N thuộc thị trấn Y để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Đến ngã ba đường rẽ đi động N gặp một người nam giới không biết tên, họ và địa chỉ và hỏi mua ma túy với người này với số tiền 100.000đ thì được người này bán cho 02 gói ma túy. P cất giấu số ma túy mua được vào túi quần đang mặc rồi điều khiển xe mô tô quay về. Đi được một đoạn thì bị Công an huyện N phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật. Bản thân P có 02 tiền án về tội tàng trữ phép chất ma túy và đã bị Công an huyện P và Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0081978/QĐ-XPHC ngày 19/12/2016 và bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số: 18/2017/QĐ-TA ngày 14/9/2017; tiền sự không. P có ông nội là ông Dương Văn Ph được Nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến hạng nhất.

Về vật chứng của vụ án, bao gồm:

  • - 01 (Một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu B2, bên trong có giấy gói, phong bì đã mở niêm phong.
  • - 01( một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu T128, bên trong có 0,105g ma túy (Heroine) cùng phong bì, bao gói cũ.
  • - 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có 01 chiếc bơm kim tiêm loại 3ml/cc chưa qua sử dụng.

(Các vật chứng hiện đang tạm giữ và được bảo quản theo quy định).

Qua các tài liệu chứng cứ đã được thu thập theo trình tự thủ tục tố tụng hình sự, xác định 01 xe mô tô BKS 20G1-313.xx, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, màu sơn đen bạc, là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của ông Dương Văn M là cha ruột của Dương Văn P; Chiếc xe mô tô này được ông M cho P mượn để sử dụng làm phương tiện đi làm, không biết P sử dụng chiếc xe mô tô này để đi mua ma túy ngày 09/6/2024 và không liên quan đến tội phạm, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trả lại chiếc xe này cho ông M qua ông Dương Văn L theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu đề ngày 14/8/2024 và văn bản ủy quyền ngày 23/7/2024 là có căn cứ, nên không xem xét giải quyết.

Tại bản cáo trạng số: 31/CT-VKSNR ngày 06/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn, truy tố bị can Dương Văn P về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi, động cơ, mục đích phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện Kiểm sát đã truy tố. Ngoài ra bị cáo còn khai nhận. Do nghiện ma túy nên đã tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân chứ không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất ma túy. Ngoài số ma túy bị thu giữ, thì P bị cơ quan chức năng tạm giữ 01 bơm kim tiêm, 01 chiếc xe mô tô BKS 20G1-313.24. P cho biết bản thân là người nghiện ma túy; nghề nghiệp tự do, thu nhập thấp và không ổn định, không có tài sản riêng; gia đình thuộc hộ nghèo, vợ chồng đã ly hôn nên xin được miễn hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm. Tại phiên tòa và lời nói sau cùng, P đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Dương Văn P phạm tội “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

  • - Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Dương Văn P từ 05 năm đến 06 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/6/2024;
  • - Hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo;
  • - Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu huỷ: 01 (Một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu B2, bên trong có giấy gói, phong bì đã mở niêm phong; 01( một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu T128, bên trong có 0,105g ma túy (Heroine) cùng phong bì, bao gói cũ; 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có 01 chiếc bơm kim tiêm loại 3ml/cc chưa qua sử dụng;
  • - Án phí: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện N, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và tranh tụng tại phiên tòa. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:

Bản thân bị cáo Dương Văn P là người nghiện ma túy nên đã tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân chứ không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã bị tổ công tác của Công an huyện N, phát hiện và lập biên bản phạm tội quả tang vào hồi 13 giờ 50 phút ngày 09/6/2024, tại đường liên thôn đi thôn K thuộc tổ nhân dân P, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ trái phép là 0,149g ma túy, loại heroine.

Bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trên trong thời gian chưa được xóa án tích của bản án số 04/2019/HSST ngày 26/02/2019 của Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Thái Nguyên với mức hình phạt 21 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù theo Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 827/GCN ngày 17/6/2020 của Trại giam Phú Sơn 4 – Cục C10 và nghĩa vụ nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm vào ngày 07/5/2019 theo văn bản trả lời xác minh thi hành án số 69/CCTHADS ngày 11/6/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện P) và bản án số 45/2021/HSST ngày 12/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên với mức hình phạt 03 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy với tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS 2015 (Tại bản án này, bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù theo Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 925/GCN ngày 23/6/2023 của Trại giam Ngọc Lý – Cục C10 và nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm vào ngày 28/6/2021 theo văn bản trả lời xác minh thi hành án số 68/CCTHADS ngày 11/6/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện P).

Do vậy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Dương Văn P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Điều luật có nội dung:

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ từ 01 năm đến 05 năm.

...c) Heroin, có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ từ 05 năm đến 10 năm...

...o) Tái phạm nguy hiểm.

...5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản;

[3] Về các tình tiết quyết định mức hình phạt:

[3.1] Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an ở địa phương.

[3.2] Về nhân thân: Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Ngày 19/12/2016 bị cáo đã bị Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản bằng Quyết định số 0081978/QĐ-XPHC với hình thức phạt tiền và bị cáo đã chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo Biên lai thu số 0000260 ngày 27/12/2016 của Kho bạc Nhà nước huyện P. Ngày 14/9/2017 bị cáo bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 18/2017/QĐ-TA ngày 14/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên và đã chấp hành xong quyết định này vào ngày 14/9/2018 theo Giấy chứng nhận số 135/GCN-TV&ĐTCNMT ngày 14/9/2018 của Cơ sở tư vấn và điều trị cai nghiện ma túy thuộc Sở LĐTB&XH Thái Nguyên. Tiền sự: Không. Với nhân thân trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.

[3.3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông nội là Dương Văn Ph được Hội đồng Chính phủ Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì theo Quyết định số 104/CP ngày 03/8/1961 vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của dân tộc và Hội đồng Nhà nước Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất theo Quyết định số 719 KT/HĐNN ngày 15/8/1985 vì đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; kết quả tranh tụng tại phiên tòa và quy định của Bộ luật hình sự, HĐXX xét thấy: Cần áp dụng biện pháp cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung; tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc hộ nghèo và không có tài sản riêng; không có quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn năm 2022- 2025 và biên bản xác minh về tài sản, thu nhập; biên bản xác minh về hoàn cảnh kinh tế và quyền sử dụng đất lập cùng ngày 11/6/2024 của Cơ quan CSDT Công an huyện N với ông Dương Văn M và UBND xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Ngoài ra, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, làm nghề tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là có cơ sở.

[4] Về vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Dương Văn P, do không xác định lai lịch của người đàn ông này nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Na Rì không đủ cơ sở để điều tra xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Đối với ông Dương Văn M là cha của bị cáo. Qua điều tra xác định chiếc xe mô tô BKS 20G1-313.xx mà bị cáo sử dụng để đi mua ma túy thuộc sở hữu của ông M và ông M không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô này vào việc phạm tội nên cơ quan CSĐT Công an huyện N không xử lý với ông Dương Văn M là có căn cứ.

[5] Về xử lý vật chứng: 01 phong bì dán kín niêm phong ký hiệu T128, bên trong có 0,105g ma túy (Heroine) cùng phong bì, bao gói cũ là vật Nhà nước cấm lưu hành và đã được giám định theo tố tụng hình sự cùng 01 phong bì dán kín niêm phong ký hiệu B2, bên trong có giấy gói, phong bì đã mở niêm phong và 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có 01 chiếc bơm kim tiêm loại 3ml/cc chưa qua sử dụng là vật chứng của vụ án liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu tiêu hủy.

(Số lượng, hiện trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/9/2024 giữa Công an huyện N với Chi cục thi hành án dân sự huyện N).

[6] Về án phí: Bị cáo thuộc đối tượng được miễn giảm tiền án phí và có đơn xin miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm nên xét thấy cần miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[8] Quan điểm truy tố, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các biện pháp tư pháp của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ các Điều 106, 329, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12, Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

[1] Tuyên bố:

Bị cáo Dương Văn P (Tên gọi khác: Không) phạm tội “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  • - Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Dương Văn P 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/6/2024.
  • Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
  • - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Dương Văn P.

[2] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì dán kín niêm phong ký hiệu T128, bên trong có 0,105g ma túy (Heroine) cùng phong bì, bao gói cũ; 01 phong bì dán kín niêm phong ký hiệu B2, bên trong có giấy gói, phong bì đã mở niêm phong; 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có 01 chiếc bơm kim tiêm loại 3ml/cc chưa qua sử dụng.

(Số lượng, hiện trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/9/2024 giữa Công an huyện N với Chi cục thi hành án dân sự huyện N).

[3] Về án phí:

Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Dương Văn P.

[4] Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án../.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKS huyện N; VKS tỉnh Bắc Kạn;
  • - TA tỉnh Bắc Kạn;
  • - Sở Tư pháp Bắc Kạn;
  • - Công an huyện N;
  • - Phòng quản lý hồ sơ CA Huyện;
  • - UBND xã N;
  • - THA hình sự;
  • - THA dân sự;
  • - Lưu Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

TRẦN QUANG HÒA

(Đã Ký)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 34/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chât ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger