Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ LỘC

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HS-ST

Ngày 28/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ LỘC, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: ông Trần Đức Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Công.

Ông Trần Văn Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: ông Trần Công Thương, là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Diệu Linh, là Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 32/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024, đối với:

Bị cáo Lò Văn C, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1997, tại huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: bản B, xã S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở hiện nay: tổ X, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Q (đã chết) và bà Lương Thị L; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 10 tháng 7 năm 2024, đến ngày 13 tháng 7 năm 2023 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người chứng kiến:

  1. Ông Hoàng Đức T, vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Ngọc Đ, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 10 tháng 7 năm 2024, bị cáo Lò Văn C điều khiển xe mô tô, biển số 18Z6-3426 đi từ nhà trọ ở tổ X, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định đến khu vực thôn H, xã M, huyện L, tỉnh Nam Định gặp một nam thanh niên không rõ tên, tuổi, địa chỉ. Qua nói chuyện, bị cáo biết nam thanh niên này có ma túy và hỏi xin để sử dụng cho bản thân. Nam thanh niên đồng ý đưa cho bị cáo một gói ma túy đá, bị cáo bỏ vào túi quần bên phải rồi điều khiển xe quay về nhà trọ. Đến khoảng 08 giờ 45 phút cùng ngày khi bị cáo đang đi trên đường ở khu vực thôn H, xã M, huyện L, tỉnh Nam Định thì bị tổ công tác Công an huyện Mỹ Lộc kiểm tra hành chính, bị cáo đã tự nguyện giao nộp cho tổ công tác một gói ni lông màu xanh, bên trong có chứa chất ma túy tinh thể dạng cục màu trắng. Ngoài ra, còn thu giữ của bị cáo một xe mô tô, biển số 18Z6-3426, đã qua sử dụng. Tổ công tác đã đưa bị cáo về trụ sở Công an huyện Mỹ Lộc lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng thu giữ.

Vật chứng thu giữ: một gói ni lông màu xanh, bên trong có chứa các hạt tinh thể dạng cục màu trắng; một xe mô tô nhãn hiệu BOSS biển số 18Z6-3426.

Tại bản kết luận giám định số 1290/KL-KTHS ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định, kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi ni lông màu xanh, trong phong bì thư được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: methamphetamine. Khối lượng: 0,169 gam.

Về xử lý vật chứng đã thu giữ:

Đối với xe mô tô biển số 18Z6-3426, qua điều tra xác minh chủ sở hữu chiếc xe mô tô là anh Hoàng Doãn G, trú tại: tổ dân phố G, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định. Anh G không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi xin ma túy sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Lộc đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh G.

Đối với nguồn gốc gói ma túy mà người thanh niên đã cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Lộc không có căn cứ điều tra xử lý.

Bản cáo trạng số 34/CT-VKS-ML ngày 07 tháng 8 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo C về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Lộc giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 21 tháng tù; về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy số lượng ma túy đã thu giữ; căn cứ vào các Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 tuyên nghĩa vụ chịu án phí đối với bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng là rất hối hận về hành vi vi phạm pháp luật của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình và hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Lộc, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo C không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

    Đối với người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  2. Về hành vi phạm tội của bị cáo Lò Văn C: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định chất ma túy, lời khai của người làm chứng cũng như toàn bộ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Từ các tình tiết, chứng cứ nêu trên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại khu vực thôn H, xã M, huyện L, tỉnh Nam Định, Công an huyện Mỹ Lộc bắt quả tang bị cáo C đang tàng trữ trái phép 0,169 gam methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân.

    Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng mà Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Lộc truy tố là có căn cứ.

  3. Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Tệ nạn ma túy là hiểm họa của nhân loại bị xã hội lên án và loại trừ. Việc sử dụng trái phép chất ma túy gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Hành vi tàng trữ trái phép 0,169 gam chất ma túy methamphetamine là xâm phạm đến khách thể được luật hình sự bảo vệ, đó là sức khỏe, tính mạng của con người trước những tác hại của ma túy và quyền quản lý độc quyền về các chất ma túy của Nhà nước.
  4. Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

    Bị cáo lần đầu phạm tội; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Từ nhận định trên, cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội là cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tính giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

  5. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định, mục đích tàng trữ ma túy chỉ để nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, không có mục đích mua bán kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
  6. Về xử lý vật chứng: Số ma túy được thu giữ sau khi được giám định là methamphetamine vật cấm tàng trữ, lưu hành căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu và tiêu hủy.
  7. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Lò Văn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10 tháng 7 năm 2024.

  2. Về xử lý vật chứng:

    Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu và tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ được niêm phong trong một phong bì thư có đặc điểm theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09 tháng 8 năm 2024 giữa Công an huyện Mỹ Lộc và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.

  3. Về án phí:

    Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Buộc bị cáo Lò Văn C phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Bị cáo Lò Văn C có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án quy định tại Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Viện Kiểm sát ND huyện Mỹ Lộc;
  • - Viện Kiểm sát ND tỉnh Nam Định;
  • - Công an huyện Mỹ Lộc;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định;
  • - Tòa án ND tỉnh Nam Định;
  • - Chi cục Thi hành án DS huyện Mỹ Lộc;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, Văn phòng Tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Trần Đức Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ LỘC, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 34/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ LỘC, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024, đối với: Bị cáo Lò Văn C, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1997, tại huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: bản B, xã S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở hiện nay: tổ X, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Bị cáo Lò Văn C phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger