TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K - TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 34 /2024/HS - ST
Ngày: 20/6/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thế Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Dự và ông Trần Văn Nghi
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hà, Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Toại, Kiểm sát viên.
Ngày 20/6/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 20/05/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST-HS ngày 07/06/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị N, sinh năm 1987; Tên gọi khác: Không; Giới tính: nữ; Nơi ĐKHKT và cư trú: Xóm D, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo.
Bố đẻ: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1958; Mẹ đẻ: Trần Thị T, sinh năm 1968; Bố mẹ hiện lao động tự do và trú tại phố P, thị trấn P, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ hai; Chồng: Hoàng Văn T1 sinh năm 1985 hiện lao động tự do và trú tại xóm D, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: Không. Lịch sử bản thân: Tại Bản án số 26/HSST ngày 20/6/2013 của Toà án nhân dân huyện K xử phạt 07 năm tù, phạt bổ sung 5.000.000 đồng và 200.000 đồng án phí về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Ngày 30/8/2013 chấp hành xong án phí, ngày 08/12/2014 chấp hành xong hình phạt tiền, ngày 13/11/2019 chấp hành xong hình phạt tù. Đã được xóa án tích.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (Có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1979; Địa chỉ cư trú: (vắng mặt tại phiên tòa).
- Người làm chứng: anh Hoàng Văn T1, sinh năm 1985; anh Phạm Anh T2, sinh năm 2002; anh Trần Văn H, sinh năm 2003 ( đều vắng mặt tại phiên tòa).
- Người chứng kiến: Ông Hoàng Tường T3 (vắng mặt tại phiên tòa).
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình khi thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Văn T1, sinh năm 1985 là chồng Nguyễn Thị N và là đối tượng trong vụ án khác phát hiện bắt giữ Nguyễn Văn D; thu giữ trong tay phải D 01 gói giấy, được D khai nhận là ma túy vừa mua của N, thu trên tay trái D số tiền 300.000 đồng.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị N và Hoàng Văn T1, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Y thu giữ: Tại ngăn kéo bàn uống nước phòng khách số tiền 4.622.000 đồng, 01 khay nhựa màu đen bên trong có 22 gói giấy (ký hiệu A1). Tại mặt bàn trang điểm phòng ngủ 01 kéo sắt, 07 mảnh giấy, 01 gói giấy (ký hiệu A2), 01 gói giấy ăn (ký hiệu A3) và 01 cân điện tử.
Tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng mẫu vật thu giữ 22 gói giấy (ký hiệu A1) bên trong đều là chất bột dạng cục màu trắng có tổng khối lượng 2,68 gam (ký hiệu M1); 01 gói giấy (ký hiệu A2) bên trong là chất bột dạng cục màu trắng có khối lượng 0,03 gam (ký hiệu M2); 01 gói giấy ăn (ký hiệu A3) bên trong có 01 viên nén màu trắng có khối lượng 0,13 gam (ký hiệu M3). Gói nhỏ thu giữ của Nguyễn Văn D bên trong là chất bột dạng cục màu trắng có khối lượng 0,09 gam (ký hiệu M4) để trưng cầu giám định.
Tại kết luận giám định số 154/KL-KTHS-MT ngày 17/01/2024 của Phòng KTHS - Công an tỉnh N kết luận: Mẫu gửi giám định kí hiệu M1 có khối lượng 2,6491 gam; kí hiệu M2 có khối lượng 0,0272 gam. Tổng khối lượng hai mẫu ký hiệu M1, M2 là 2,6763 gam đều là ma túy, loại Heroine. Mẫu gửi giám định kí hiệu M3 có khối lượng 0,1301 gam là ma túy, loại MDMA.
Tại kết luận giám định số 155/KL-KTHS-MT ngày 17/01/2024 của Phòng KTHS - Công an tỉnh N kết luận: Mẫu gửi giám định kí hiệu M4 có khối lượng 0,0928 gam là ma túy, loại Heroine.
Tại cơ quan điều tra Nguyễn Thị N khai nhận: Do không có việc làm và đang nuôi con nhỏ, để có tiền chi tiêu cuộc sống nên Nguyễn Thị N đã nảy sinh ý định mua ma túy về bán lại cho người nghiện nhằm kiếm lời. Khoảng đầu tháng 12/2023, N đi đến khu vực cầu N thuộc huyện Ý, tỉnh Nam Định. Tại đây, N gặp hỏi và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy loại Heroine với giá 800.000 đồng và được người này cho thêm 01 viên ma tuý dạng nén màu trắng gói bên ngoài bằng giấy ăn, sau đó N mang về nhà chia gói ma túy loại Heroine thành 24 phần cất giấu để bán. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/01/2024 khi N đang ở nhà thì Nguyễn Văn D đến nhà N hỏi mua 200.000 đồng ma tuý, N đồng ý. D đưa cho N 500.000 đồng, N nhận tiền rồi đưa cho D 01 gói ma tuý và 300.000 đồng tiền thừa. Sau khi mua được ma tuý D đi về, khi ra đến đường dong trước cổng nhà N thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Y phát hiện bắt giữ.
2
Ngày 10/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Y đã chuyển nguồn tin về tội phạm cùng vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K để xác minh, giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại số tiền 300.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn D. Chuyển vào tài khoản và kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Sơn số vật chứng số tiền 4.622.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị N; 03 phong bì niêm phong ghi số 154 bên trong có vật chứng còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ giấy gói trong gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong ghi số 155 bên trong có vật chứng còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ giấy gói trong gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong có 23 vỏ giấy, 01 vỏ giấy loại giấy ăn và các vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong có 01 mảnh giấy và vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 khay nhựa màu đen; 01 kéo sắt; 07 mảnh giấy; 01 cân điện tử và vỏ phong bì niêm phong tiền của Nguyễn Văn D để giải quyết cùng vụ án.
Tại Cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 18/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình truy tố bị cáo Nguyễn Thị N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố trong cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:
- + Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS:
- + Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- + Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N từ 27 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt.
- + Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 và Điều 136 BLTTHS năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14:
- + Tịch thu tiêu hủy: 03 phong bì niêm phong ghi số 154 bên trong có vật chứng còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ giấy gói trong gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong ghi số 155 bên trong có vật chứng còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ giấy gói trong gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong có 23 vỏ giấy, 01 vỏ giấy loại giấy ăn và các vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong có 01 mảnh giấy và vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 khay nhựa màu đen; 01 kéo sắt; 07 mảnh giấy. và vỏ phong bì niêm phong tiền của Nguyễn Văn D.
- + Tịch thu sung ngân sách 01 cân điện tử.
- + Truy thu từ bị cáo 200.000đ số tiền bán ma túy ngày 09/01/2024.
- + Trả lại cho bị cáo số tiền 4.622.000đ đã thu giữ nhưng tiếp tục quản lý đảm bảo thi hành án.
- + Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến bào chữa, không có ý kiến tranh luận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
3
[1] Về tội danh của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị N khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án tòa án đã nêu; lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; biên bản sự việc lập hồi 19 giờ 00 phút ngày 09/01/2024 lời khai của người liên quan, người làm chứng, người chứng kiến
Được chứng minh bằng vật chứng thu giữ được là 2,8992 gam ma túy loại Heroine và MDMA; kết luận giám định số 154/KL-KTHS-MT ngày 17/01/2024; kết luận giám định số 155/KL-KTHS-MT ngày 17/01/2024 của Phòng KTHS - Công an tỉnh N đã kết luận: Mẫu gửi giám định kí hiệu M1 có khối lượng 2,6491 gam; kí hiệu M2 có khối lượng 0,0272 gam. Tổng khối lượng hai mẫu ký hiệu M1, M2 là 2,6763 gam đều là ma túy, loại Heroine. Mẫu gửi giám định kí hiệu M3 có khối lượng 0,1301 gam là ma túy, loại MDMA. Mẫu gửi giám định kí hiệu M4 có khối lượng 0,0928 gam là ma túy, loại Heroine.
Từ những chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/01/2024, tại nhà ở của mình thuộc xóm D, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình, bị cáo Nguyễn Thị N có hành vi bán trái phép 0,0928 gam Heroine cho Nguyễn Văn D lấy 200.000 đồng, đồng thời cũng tại địa điểm trên Nhung còn cất giấu trái phép 2,6763 gam Heroine và 0,1301 gam MDMA với mục đích để bán cho người khác nhằm thu lợi bất chính. Hành vi đó của bị cáo Nguyễn Thị N đã phạm tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại khoản 1 Điều 251 bộ luật Hình sự.
“Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma tuý.
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm"...
Như vậy Viện Kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo Nguyễn Thị N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[2] Về hình phạt đối với bị cáo:
Tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện: Bị cáo đủ năng lực và nhận thức rất rõ hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và còn là nguyên nhân nảy sinh các tội phạm và các tệ nạn xã hội khác; hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo đang nuôi ba con chưa thành niên, trong đó có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Nhân thân bị cáo: đã từng bị xử phạt về hành vi bán ma túy trước đây, mặc dù đã được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm mà có hành vi phạm tội mới.
4
Căn cứ vào tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiệncần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải cách ly đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích.
Khi lượng hình: xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, hoàn cảnh gia đình bị cáo thì mức hình phạt theo đề xuất của Kiểm sát viên là phù hợp với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo phạm tội vì lợi nhuận cần áp dụng hình phạt bổ sung tại khoản 5 Điều 251 BLHS đối với bị cáo.
[3] Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực cầu N thuộc huyện Ý, tỉnh Nam Định. Bản thân bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ của người này, nếu gặp lại cũng không nhận dạng được. Do vậy Cơ quan CSĐT - Công an huyện K chưa đủ căn cứ để xác minh, xử lý.
[4] Đối với Nguyễn Văn D có hành vi mua 0,0928 gam Heroine của Nguyễn Thị N để sử dụng cho bản thân; do D chưa có tiền án, tiền sự về các hành vi “Tàng trữ, sản xuất, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy” nên D không phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điều 249 Bộ luật hình sự. Ngày 17/4/2024, Công an huyện K đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với D là phù hợp, đúng quy định.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 300.000đ thu giữ của Nguyễn Văn D, quá trình điều tra xác định D không sử dụng số tiền này vào mục đích vi phạm pháp luật. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại tiền cho D là phù hợp Hội đồng xét xử không xem xét lại.
Đối với 03 phong bì niêm phong ghi số 154 bên trong có vật chứng còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ giấy gói trong gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong ghi số 155 bên trong có vật chứng còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ giấy gói trong gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong có 23 vỏ giấy, 01 vỏ giấy loại giấy ăn và các vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong có 01 mảnh giấy và vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 khay nhựa màu đen; 01 kéo sắt; 07 mảnh giấy và vỏ phong bì niêm phong tiền của Nguyễn Văn D. Đây là những vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 4.622.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị N, đây là số tiền riêng của bị cáo không liên quan đến vụ án cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục quản lý đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 cân điện tử bị cáo sử dụng để chia nhỏ ma túy đẻ bán còn giá trị sử dụng cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền 200. 000đ bị cáo bán ma túy ngày 09/01/2024 cho D là tiền do phạm tội mà có cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an huyện K; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình: Trong quá trình điều tra, truy tố người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng do đã thực hiện đều hợp pháp.
[7] Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
5
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 và 5 Điều 251; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị N 28 ( hai mươi tám) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000₫ sung ngân sách nhà nước
- Xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 03 phong bì niêm phong ghi số 154 bên trong có vật chứng còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ giấy gói trong gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong ghi số 155 bên trong có vật chứng còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ giấy gói trong gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong có 23 vỏ giấy, 01 vỏ giấy loại giấy ăn và các vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong có 01 mảnh giấy và vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 khay nhựa màu đen; 01 kéo sắt; 07 mảnh giấy và vỏ phong bì niêm phong tiền của Nguyễn Văn D.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị N số tiền 4.622. 000₫ nhưng tiếp tục quản lý đảm bảo thi hành án.
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 cân điện tử.
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 200.000đ từ bị cáo.
- (Chi tiết như trong biên bản bàn giao vật chứng giữa công an huyện K vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện K ngày 19/5/2024)
- Án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sư có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
6 | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thế Anh |
7
Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH NINH BÌNH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 34/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán MT
