|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 34/2024/HS-ST Ngày 25 tháng 4 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
---
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Hoàng Thị Hanh
- Bà Kiều Thị Thắng
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoài Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Phan Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Tuấn D, sinh ngày 19/8/1995, tại thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: TDP M, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao dộng tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T, sinh năm 1962 và bà Đỗ Thị L, sinh năm 1965; vợ là Vũ Thị Ánh T1, sinh năm 1993 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2022, nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 13/10/2023 đến ngày 22/10/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Hoàng Anh T2, sinh năm 1997
- Nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện T1, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
- + Anh Phạm Xuân B, sinh năm 1996.
- Nơi cư trú: TDP M, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Tuấn D lợi dụng vào sự quản lý lỏng lẻo của các cơ quan Nhà nước và chính quyền địa phương, Trần Tuấn D đã nảy sinh ý định cho người quen vay tiền với mức lãi suất cao để thu lời bất chính. Khi có người vay tiền thì gặp D để thỏa thuận về số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất vay, không phải cầm cố tài sản gì. Sau khi thỏa thuận xong, D ghi chép thông tin về người vay, số tiền vay, ngày vay vào tập giấy A4 để theo dõi. Sau đó, D trừ tiền lãi của người vay theo thời hạn vay vào tiền gốc vay và đưa trực tiếp tiền hoặc chuyển khoản từ tài khoản Ngân hàng của D số tiền gốc còn lại đến tài khoản Ngân hàng của người vay. Đến thời hạn trả tiền gốc, nếu người vay chưa trả được tiền gốc thì D tiếp tục gia hạn thời hạn vay, khi này người vay phải trả cho D tiền lãi cho thời hạn vay tiếp theo.
Trong khoảng thời gian từ ngày 08/01/2022 đến ngày 15/6/2023, với hình thức cho vay tiền như trên, Trần Tuấn D đã có 16 lần cho anh Hoàng Anh T2 và 01 lần cho anh Phạm Xuân B vay tiền với mức lãi suất trên 05 lần mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự (20%/năm) để thu lợi bất chính. Tổng số tiền D đã thu lợi bất chính là 93.899.740đồng.
Trần Tuấn D cho anh Hoàng Anh T2 vay tiền tổng cộng 16 lần, cụ thể:
Lần thứ 1: Ngày 13/4/2022, D cho anh T2 vay 30.000.000đồng, lãi suất vay thỏa thuận 4.000đồng/1.000.000đồng/01 ngày vay (tương đương với mức lãi suất 146%/năm), kỳ hạn trả lãi 10 ngày 01 lần. D cắt lãi luôn cho 10 ngày vay đầu tiên 1.200.000đồng và chỉ chuyển khoản cho anh T2 28.800.000đồng. Đến ngày 18/4/2022, anh T2 chuyển khoản trả 30.000.000đồng tiền gốc cho D. D đã thu số tiền lãi của anh T2 1.200.000đồng tương ứng với 10 ngày vay theo thỏa thuận, trong đó số tiền lãi theo mức lãi suất tối đa cho phép theo luật định 20%/năm là 164.384đồng, số tiền thu lợi bất chính 1.035.616đồng.
Lần thứ 2: Cùng trong ngày 13/4/2022, D cho anh T2 vay tiếp 10.000.000đồng, lãi suất vay thỏa thuận 4.000đồng/1.000.000đồng/01 ngày vay (tương đương với mức lãi suất 146%/năm), kỳ hạn trả lãi 10 ngày 01 lần. D cắt lãi luôn cho 10 ngày vay đầu tiên 400.000đồng và chỉ chuyển khoản cho anh T2 9.600.000đồng. Đến ngày 18/4/2022, anh T2 chuyển khoản trả 10.000.000đồng tiền gốc cho D. D đã thu số tiền lãi của anh T2 400.000đồng tương ứng với 10 ngày vay theo thỏa thuận, trong đó số tiền lãi theo mức lãi suất tối đa cho phép theo luật định 20%/năm là 54.795đồng, số tiền thu lợi bất chính 345.205đồng.
Lần thứ 3: Ngày 18/4/2022, D cho anh T2 vay tiếp 40.000.000đồng, lãi suất vay thỏa thuận 4.000đồng/1.000.000đồng/01 ngày vay (tương đương với mức lãi suất 146%/năm), kỳ hạn trả lãi 10 ngày 01 lần. D cắt lãi luôn cho 10 ngày vay đầu tiên 1.600.000đồng và chỉ chuyển khoản cho anh T2 38.400.000đồng. Cùng ngày 18/4/2022, anh T2 đã chuyển khoản trả cho D 39.800.000đồng tiền gốc và xin D 200.000đồng để chi tiêu cá nhân. D đã thu số tiền lãi của anh T2 1.600.000đồng tương ứng với 10 ngày vay theo thỏa thuận, trong đó số tiền lãi theo mức lãi suất tối đa cho phép theo luật định 20%/năm là 219.178đồng, số tiền thu lợi bất chính 1.380.822đồng.
Lần thứ 4: Ngày 19/4/2022, D cho anh T2 vay tiếp 30.000.000đồng, lãi suất vay thỏa thuận 4.000đồng/1.000.000đồng/01 ngày vay (tương đương với mức lãi suất 146%/năm), kỳ hạn trả lãi 10 ngày 01 lần. D cắt lãi luôn cho 10 ngày vay đầu tiên 1.200.000đồng và chỉ chuyển khoản cho anh T2 28.800.000đồng. Cùng ngày 19/4/2022, anh T2 đã chuyển khoản trả 30.000.000đồng tiền gốc cho D. D đã thu số tiền lãi của anh T2 1.200.000đồng tương ứng với 10 ngày vay theo thỏa thuận, trong đó số tiền lãi theo mức lãi suất tối đa cho phép theo luật định 20%/năm là 164.384đồng, số tiền thu lợi bất chính 1.035.616đồng.
Lần thứ 5: Cùng trong ngày 19/4/2022, D cho anh T2 vay tiếp 30.000.000đồng, lãi suất vay thỏa thuận 4.000đồng/1.000.000đồng/01 ngày vay (tương đương với mức lãi suất 146%/năm), kỳ hạn trả lãi 10 ngày 01 lần. D cắt lãi luôn cho 10 ngày vay đầu tiên 1.200.000đồng và chỉ chuyển khoản cho anh T2 28.800.000đồng. Đến ngày 15/5/2022, anh T2 đã chuyển khoản trả 30.000.000đồng tiền gốc cho D. D đã thu số tiền lãi thực tế của anh T2 2.400.000đồng tương ứng 20 ngày vay theo thỏa thuận (còn 10 ngày vay theo thỏa thuận anh T2 xin nên D không tính lãi), trong đó số tiền lãi theo mức lãi suất tối đa cho phép theo luật định 20%/năm là 328.767đồng, số tiền thu lợi bất chính 2.071.233 đồng.
Lần thứ 6: Ngày 30/4/2022, D cho anh T2 vay tiếp 30.000.000đồng, lãi suất vay thỏa thuận 4.000đồng/1.000.000đồng/01 ngày vay (tương đương với mức lãi suất 146%/năm), kỳ hạn trả lãi 10 ngày 01 lần. D cắt lãi luôn cho 10 ngày vay đầu tiên 1.200.000đồng và đưa trực tiếp cho anh T2 28.800.000đồng. Đến ngày 16/5/2022, anh T2 đã trả bằng tiền mặt 30.000.000đồng tiền gốc vay cho D. D đã thu số tiền lãi thực tế của anh T2 2.400.000đồng tương ứng với 20 ngày vay theo thỏa thuận, trong đó số tiền lãi theo mức lãi suất tối đa cho phép theo luật định 20%/năm là 328.767đồng, số tiền thu lợi bất chính 2.071.233đồng.
Lần thứ 7: Ngày 01/5/2022, D cho anh T2 vay tiếp 20.000.000đồng, lãi suất vay thỏa thuận 4.000đồng/1.000.000đồng/01 ngày vay (tương đương với mức lãi suất 146%/năm), kỳ hạn trả lãi 10 ngày 01 lần. D cắt lãi luôn cho 10 ngày vay đầu tiên 800.000đồng và đưa trực tiếp cho anh T2 19.200.000đồng. Đến ngày 15/5/2022, anh T2 đã trả bằng tiền mặt 20.000.000đồng tiền gốc vay cho D. D đã thu số tiền lãi thực tế của anh T2 1.600.000đồng tương ứng với 20 ngày vay theo thỏa thuận, trong đó số tiền lãi theo mức lãi suất tối đa cho phép theo luật định 20%/năm là 219.178đồng, số tiền thu lợi bất chính 1.380.822đồng.
Lần thứ 8: Ngày 17/5/2022, D cho anh T2 vay tiếp 30.000.000đồng, lãi suất vay thỏa thuận 4.000đồng/1.000.000đồng/01 ngày vay (tương đương với mức lãi suất 146%/năm), kỳ hạn trả lãi 10 ngày 01 lần. D cắt lãi luôn cho 10 ngày vay đầu tiên 1.200.000đồng và chỉ chuyển khoản cho anh T2 28.800.000đồng. Đến ngày 18/5/2022, anh T2 đã chuyển khoản trả cho D 29.800.000đồng tiền gốc vay và xin D 200.000đồng tiêu vặt. D đã thu số tiền lãi thực tế của anh T2 1.200.000đồng tương ứng với 10 ngày vay theo thỏa thuận, trong đó số tiền lãi theo mức lãi suất tối đa cho phép theo luật định 20%/năm là 164.384đồng, số tiền thu lợi bất chính 1.035.616đồng.
Lần thứ 9: Cùng trong ngày 17/5/2022, D cho anh T2 vay tiếp 20.000.000đồng, lãi suất vay thỏa thuận 4.000đồng/1.000.000đồng/01 ngày vay (tương đương với mức lãi suất 146%/năm), kỳ hạn trả lãi 10 ngày 01 lần. Sau đó, D sử dụng tài khoản Ngân hàng TMCP C2 của D, số tài khoản 1050.058.479.65 chuyển tiền đến tài khoản Ngân hàng TMCP C2 của anh T2, số tài khoản 1038.7089.1509 để cho anh T2 vay. Khi chuyển khoản, D cắt lãi luôn cho 10 ngày vay đầu tiên 800.000đồng và chỉ chuyển khoản cho anh T2 19.200.000đồng. Đến ngày 18/5/2022, anh T2 đã chuyển khoản trả 20.000.000đồng tiền gốc vay cho D. D đã thu số tiền lãi thực tế của anh T2 800.000đồng tương ứng với 10 ngày vay theo thỏa thuận, trong đó số tiền lãi theo mức lãi suất tối đa cho phép theo luật định 20%/năm là 109.589đồng, số tiền thu lợi bất chính 690.411đồng.
Lần thứ 10: Ngày 19/5/2022, D cho anh T2 vay tiếp 50.000.000đồng, lãi suất vay thỏa thuận 4.000đồng/1.000.000đồng/01 ngày vay (tương đương với mức lãi suất 146%/năm), kỳ hạn trả lãi 10 ngày 01 lần. D cắt lãi luôn cho 10 ngày vay đầu tiên 2.000.000đồng và chỉ chuyển khoản cho anh T2 48.000.000đồng. Đến ngày 02/6/2022, anh T2 đã chuyển khoản trả 50.000.000đồng tiền gốc vay cho D. D đã thu số tiền lãi thực tế của anh T2 4.000.000đồng tương ứng 20 ngày vay theo thỏa thuận, trong đó số tiền lãi theo mức lãi suất tối đa cho phép theo luật định 20%/năm là 547.945đồng, số tiền thu lợi bất chính 3.452.055đồng.
Lần thứ 11: Cùng trong ngày 19/5/2022, D cho anh T2 vay tiếp 40.000.000đồng, lãi suất vay thỏa thuận 4.000đồng/1.000.000đồng/01 ngày vay (tương đương với mức lãi suất 146%/năm), kỳ hạn trả lãi 10 ngày 01 lần. D cắt lãi luôn cho 10 ngày vay đầu tiên 1.600.000đồng và chỉ chuyển khoản cho anh T2 38.400.000đồng. Đến ngày 02/6/2022, anh T2 đã chuyển khoản trả 39.500.000đồng tiền gốc vay cho D và xin D 500.000đồng để chi tiêu cá nhân. D đã thu số tiền lãi thực tế của anh T2 3.200.000đồng tương ứng 20 ngày, trong đó số tiền lãi theo mức lãi suất tối đa cho phép theo luật định 20%/năm là 438.356đồng, số tiền thu lợi bất chính 2.761.644đồng.
Lần thứ 12: Ngày 03/6/2022, D cho anh T2 vay tiếp 50.000.000đồng, lãi suất vay thỏa thuận 4.000đồng/1.000.000đồng/01 ngày vay (tương đương với mức lãi suất 146%/năm), kỳ hạn trả lãi 10 ngày 01 lần. D cắt lãi luôn cho 10 ngày vay đầu tiên 2.000.000đồng và chỉ chuyển khoản cho anh T2 48.000.000đồng. Cùng ngày 03/6/2022, anh T2 đã chuyển khoản trả 49.300.000đồng tiền gốc vay cho D và xin D 700.000đồng để chi tiêu cá nhân. D đã thu số tiền lãi thực tế của anh T2 2.000.000đồng tương ứng 10 ngày, trong đó số tiền lãi theo mức lãi suất tối đa cho phép theo luật định 20%/năm là 273.973 đồng, số tiền thu lợi bất chính 1.726.027đồng.
Lần thứ 13: Ngày 11/6/2022, D cho anh T2 vay tiếp 50.000.000đồng, lãi suất vay thỏa thuận 4.000đồng/1.000.000đồng/01 ngày vay (tương đương với mức lãi suất 146%/năm), kỳ hạn trả lãi 10 ngày 01 lần. D cắt lãi luôn cho 10 ngày vay đầu tiên 2.000.000đồng và chỉ chuyển khoản cho anh T2 số tiền 48.000.000đồng. Đến ngày 15/8/2022, anh T2 đã trả hết số tiền gốc vay cho D. D đã thu số tiền lãi thực tế của anh T2 14.000.000đồng tương ứng 70 ngày vay theo thỏa thuận, trong đó số tiền lãi theo mức lãi suất tối đa cho phép theo luật định 20%/năm là 1.534.247đồng, số tiền thu lợi bất chính 12.465.753đồng.
Lần thứ 14: Ngày 12/6/2022, D cho anh T2 vay tiếp 40.000.000đồng, lãi suất vay thỏa thuận 4.000đồng/1.000.000đồng/01 ngày vay (tương đương với mức lãi suất 146%/năm), kỳ hạn trả lãi 10 ngày 01 lần. D cắt lãi luôn cho 10 ngày vay đầu tiên 1.600.000đồng và chỉ chuyển khoản cho anh T2 48.000.000đồng. Đến ngày 15/8/2022, anh T2 đã trả hết số tiền gốc vay cho D. D đã thu số tiền lãi thực tế của anh T2 11.200.000đồng tương ứng 70 ngày vay, trong đó số tiền lãi theo mức lãi suất tối đa cho phép theo luật định 20%/năm là 1.534.247 đồng, số tiền thu lợi bất chính 9.665.753đồng.
Lần thứ 15: Ngày 05/8/2022, D cho anh T2 vay tiếp 40.000.000đồng, lãi suất vay thỏa thuận 4.000đồng/1.000.000đồng/01 ngày vay (tương đương với mức lãi suất 146%/năm), kỳ hạn trả lãi 10 ngày 01 lần. D cắt lãi luôn cho 10 ngày vay đầu tiên 1.600.000đồng và chỉ chuyển khoản cho anh T2 48.000.000đồng. Đến ngày 15/8/2022, anh T2 đã trả hết số tiền gốc vay cho D. D đã thu số tiền lãi thực tế của anh T2 1.600.000đồng tương ứng 10 ngày vay, trong đó số tiền lãi theo mức lãi suất tối đa cho phép theo luật định 20%/năm là 219.178đồng, số tiền thu lợi bất chính 1.380.822đồng.
Lần thứ 16: Ngày 15/6/2023, D cho anh T2 vay tiếp 20.000.000đồng, lãi suất vay thỏa thuận 4.000đồng/1.000.000đồng/01 ngày vay (tương đương với mức lãi suất 146%/năm), kỳ hạn trả lãi 30 ngày 01 lần. D cắt lãi trước cho 30 ngày vay đầu tiên 2.400.000đồng và chỉ chuyển khoản cho anh T2 số tiền 17.600.000đồng. Đến ngày 20/9/2023, T2 đã trả hết số tiền gốc vay cho D. D đã thu số tiền lãi thực tế của anh T2 9.600.000đồng tương ứng 90 ngày vay, trong đó số tiền lãi theo mức lãi suất tối đa cho phép theo luật định 20%/năm là 986.301đồng, số tiền thu lợi bất chính 8.613.699đồng.
Như vậy, tổng số tiền Trần Tuấn D cho anh Hoàng Anh T2 vay đối với 16 lần vay trên là 530.000.000đồng, tổng số tiền Trần Tuấn D thu lợi bất chính đối với 16 lần cho anh Hoàng Anh T2 vay là 50.728.767đồng.
Trần Tuấn D cho anh Phạm Xuân B vay tiền, cụ thể:
Ngày 08/01/2022, D cho anh B vay 20.000.000đồng, lãi suất thỏa thuận 5.000đồng/1.000.000đồng/01 ngày (tức 182,5%/01 năm), thống nhất kỳ hạn trả lãi là 10 ngày 01 lần, D cắt lãi luôn tại lần vay đầu tiên 1.000.000đồng và đưa cho anh B 19.000.000đồng. Do không có tiền đều nên có lần anh B đóng đủ tiền đúng ngày, có lần không đóng đủ tiền, khi không có tiền thì anh B và D thỏa thuận khi nào có tiền thì anh B trả tiền lãi cho D hoặc cho anh B một ít tiền lãi. Tính đến ngày 13/10/2023, D đã cho anh B vay tiền trong thời hạn 650 ngày theo thỏa thuận với tổng số tiền lãi thực tế nhận 50.097.000đồng, trong đó số tiền lãi theo mức lãi suất tối đa cho phép theo luật định 20%/năm là 7.123.288đồng, số tiền thu lợi bất chính 43.061.384đồng.
Ngày 12/10/2023, anh Hoàng Anh T2 có đơn tố giác Trần Tuấn D về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Ngày 13/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Tuấn D, kết quả: Thu giữ 05 tờ giấy A4 trong đó có 02 tờ giấy A4 có ghi chữ và số, còn 03 tờ giấy A4 không ghi chữ và số. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã tiến hành triệu tập Trần Tuấn D đến Cơ quan điều tra để làm việc. Tại Cơ quan điều tra, D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên đồng thời giao nộp cho Cơ quan điều tra một tập sao kê tài khoản Ngân hàng số 1050.0584.7965 mở tại Ngân hàng TMCP C2 mang tên Trần Tuấn D của D từ ngày 04/01/2022 đến ngày 31/12/2022 thể hiện các giao dịch chuyển tiền đến và chuyển tiền đi của D trong tài khoản Ngân hàng gồm 90 trang (bản photo), một tập sao kê tài khoản Ngân hàng số 1005.5978.9999 mở tại Ngân hàng TMCP C2 mang tên Trần Tuấn D của D từ ngày 19/12/2021 đến ngày 07/01/2023 thể hiện các giao dịch chuyển tiền đến và chuyển tiền đi của D trong tài khoản ngân hàng gồm 16 trang (bản photo) để phục vụ quá trình điều tra.
Quá trình điều tra xác định những giao dịch cho vay tiền, thu tiền lãi được Trần Tuấn D thực hiện bằng hai hình thức tiền mặt và chuyển khoản qua tài khoản Ngân hàng của D số 1050.0584.7965 và số 1005.5978.9999 đều mở tại Ngân hàng TMCP C2 mang tên Trần Tuấn D. Anh Hoàng Anh T2 sử dụng tài khoản Ngân hàng số 1038.7089.1509 mở tại Ngân hàng TMCP C2, tài khoản Ngân hàng số 2807.2150.42146 mở tại Ngân hàng N2, tài khoản Ngân hàng số 0111.381.907 mở tại Ngân hàng TMCP Đ, tài khoản Ngân hàng số 248.333.774 mở tại Ngân hàng TMCP V đều mang tên Hoàng Anh T2 để vay tiền và trả tiền lãi cho D. Anh Phạm Xuân B sử dụng tài khoản Ngân hàng số 1080.0136.9498 mở tại Ngân hàng TMCP C2 mang tên Phạm Xuân B để trả tiền lãi cho D. Ngày 10/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã có Công văn yêu cầu Ngân hàng TMCP C2, chi nhánh tỉnh Vĩnh Phúc sao kê các giao dịch chuyển tiền đi, chuyển tiền đến tài khoản Ngân hàng số 1050.0584.7965 và số 1005.5978.9999 của Trần Tuấn D.
Các bản sao kê tài khoản Ngân hàng của D phù hợp với tập giấy A4, gồm 05 tờ giấy A4 đã được Cơ quan điều tra thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Tuấn D và thể hiện nội dung Trần Tuấn D đã cho anh Hoàng Anh T2 và anh Phạm Xuân B vay tiền với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự để thu lợi bất chính như đã nêu trên.
Ngoài ra, trong các bản sao kê tài khoản Ngân hàng của D còn thể hiện, ngoài các giao dịch chuyển, nhận tiền cho vay lãi, trả lãi với anh Hoàng Anh T2 và anh Phạm Xuân B như nêu trên, còn có một số giao dịch có dấu hiệu bất thường. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã làm việc với những người liên quan để tiến hành xác minh, cụ thể:
- - Giao dịch với tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng TMCP C2 và số tài khoản số 2809215011175 mở tại Ngân hàng N2 đều của anh Nguyễn Đức C, sinh năm 1991, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: TDP số E, thị trấn C, huyện H, tỉnh Nam Định; tài khoản số 42510000867344 mở tại Ngân hàng TMCP Đ1 của anh Phạm Trung K, sinh năm 1994, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: TDP V, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; tài khoản số 42510001683066 mở tại Ngân hàng TMCP Đ1 của anh Phùng Duy T3, sinh năm 1993, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng TMCP C2 của anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1991, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; tài khoản số 0550189896999 mở tại Ngân hàng TMCP Q của anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1992, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng TMCP C2 của anh Lương Việt H2, sinh năm 1991, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; tài khoản số 8830199388888 mở tại Ngân hàng TMCP Q của anh Nguyễn Văn B1, sinh năm 1993, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng TMCP C2 của anh Nguyễn Văn D1, sinh năm 1990, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng TMCP C2 của anh Nguyễn Tuấn C1, sinh năm 1992, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng TMCP C2 của anh Nguyễn Hữu N, sinh năm 1992, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; tài khoản số 5629081996 mở tại Ngân hàng TMCP Q của anh Trần Xuân T4, sinh năm 1996, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; tài khoản số 1026787732 mở tại Ngân hàng TMCP N3 của anh Nguyễn Văn T5, sinh năm 1997, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng TMCP C2 của anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1992, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã tiến hành xác minh xác định các giao dịch chuyển tiền giữa D và những người liên quan trên là vay tiền để chi tiêu sinh hoạt cá nhân, không liên quan đến việc vay và trả lãi với mức lãi suất cao vượt quá quy định của pháp luật nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
- - Giao dịch với tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng TMCP C2 của chị Nguyễn Thị Tuyết T6, sinh năm 1988, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng TMCP C2 của bà Nguyễn Thị Minh N1, sinh năm 1980, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã tiến hành xác minh nhưng hiện tại chị T6, bà N1 không có mặt tại địa phương, không xác định được đang ở đâu. Quá trình điều tra D khai nhận ngoài anh Hoàng Anh T2 và anh Phạm Xuân B, D không cho ai vay lãi. Vì vậy, cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Anh T2, anh Phạm Xuân B vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra đã khai nhận phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số 26/CT-VKSTD ngày 14/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Trần Tuấn D về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Tuấn D phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Tuấn D từ 150.000.000đồng đến 170.000.000đồng; về hình phạt bổ sung: Do hình phạt chính đối với bị cáo là phạt tiền nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; về xử lý vật chứng và xử lý các khoản tiền liên quan đến vụ án, đề nghị lưu hồ sơ vụ án đối với 05 tờ giấy A4 (trong đó có 02 tờ giấy A4 có ghi các chữ và số, 03 tờ giấy A4 không ghi các chữ và số) mà Cơ quan điều tra thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của D và 02 tập sao kê tài khoản ngân hàng do Trần Tuấn D giao nộp được đánh số bút lục. Truy thu đối với Trần Tuấn D số tiền 550.000.000đồng là tiền gốc Trần Tuấn D đã dùng để cho anh Hoàng Anh T2 và anh Phạm Xuân B vay và số tiền 14.597.260đồng là khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự 20%/năm mà D đã thu của anh Hoàng Anh T2 và anh Phạm Xuân B, để sung vào ngân sách Nhà nước.
Bị cáo Trần Tuấn D không bào chữa, không tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
[1]. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự tố tụng của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
-
[2]. Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, bị cáo Trần Tuấn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo Trần Tuấn D tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng thu giữ được và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ chứng cứ khách quan để kết luận: Trần Tuấn D lợi dụng vào sự quản lý lỏng lẻo của các cơ quan Nhà nước và chính quyền địa phương, D đã nảy sinh ý định cho vay tiền với mức lãi suất cao để thu lợi bất chính. D cho vay tiền với lãi suất cao 4.000đồng và 5.000đồng/1.000.000đồng/01 ngày, tương đương với mức lãi suất 146% và 182,5%/năm (gấp 7,3 và 9,125 lần), vượt quá 05 lần mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự (20%/01 năm), để thu lợi bất chính. Trong khoảng thời gian từ ngày 08/01/2022 đến ngày 15/6/2023, Trần Tuấn D đã sử dụng số tiền gốc 550.000.000đồng cho anh Hoàng Anh T2 và anh Phạm Xuân B vay để thu về số tiền lãi 108.497.000đồng, trong đó tiền lãi được Nhà nước cho phép 14.597.260đồng, thu lợi bất chính 93.899.740đồng.
Hành vi của Trần Tuấn D đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Điều 201 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000đồng đến dưới 100.000.000đồng ... thì bị phạt tiền từ 50.000.000đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”.
Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm đến lợi ích của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện vì vậy cần phải xử lý nghiêm.
-
[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo: Bị cáo Trần Tuấn D không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo Trần Tuấn D là người chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện trả toàn bộ số tiền thu lợi bất chính cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; bị cáo đã hoàn thành công an nghĩa vụ nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét thấy cần cân nhắc, xem xét áp dụng hình phạt tiền với mức phạt nhất định đối với bị cáo theo đề nghị của đại diện viện kiểm sát là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
-
[4]. Về hình phạt bổ sung: Do hình phạt chính đối với bị cáo là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
-
[5]. Về xử lý vật chứng và xử lý các khoản tiền liên quan đến vụ án:
- - Đối với 05 tờ giấy A4 (trong đó có 02 tờ giấy A4 có ghi các chữ và số, 03 tờ giấy A4 không ghi các chữ và số) mà Cơ quan điều tra thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của D và 02 tập sao kê tài khoản ngân hàng do Trần Tuấn D giao nộp được đánh số bút lục là tài liệu chứng cứ nên cần lưu vào hồ sơ vụ án.
- - Đối với số tiền gốc Trần Tuấn D đã dùng để cho anh Hoàng Anh T2 và anh Phạm Xuân B vay là 550.000.000đồng, đây là số tiền D sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội. Số tiền này anh Hoàng Anh T2 và anh Phạm Xuân B đã trả đủ cho D nên cần truy thu của D toàn bộ số tiền này để sung vào ngân sách Nhà nước.
- - Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự 20%/năm là 14.597.260đồng mà D đã thu của anh Hoàng Anh T2 và anh Phạm Xuân B, tuy không bị tính khi xem xét trách nhiệm hình sự, nhưng số tiền này phát sinh từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần truy thu số tiền này đối với D để sung vào ngân sách Nhà nước.
- - Đối với khoản tiền lãi tương ứng với lãi suất trên 20%/năm mà Trần Tuấn D đã thu của anh Hoàng Anh T2 và anh Phạm Xuân B 93.899.740đồng, trong đó thu của anh T2 50.728.767đồng, thu của anh B 43.061.384đồng. Đây là khoản tiền D đã thu lợi bất chính của những người vay. Quá trình điều tra, D đã trả lại số tiền thu lợi bất chính cho anh T2 và anh B. Anh T2 và anh B sau khi nhận lại tiền không có yêu cầu đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
[6]. Về án phí: Bị cáo Trần Tuấn D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
-
[7]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đối với bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật sẽ được Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Tuấn D phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
-
Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 201; Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Tuấn D 150.000.000đồng (một trăm năm mươi triệu đồng).
-
Về xử lý vật chứng và các khoản tiền liên quan đến vụ án:
Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- - Lưu hồ sơ vụ án 05 tờ giấy A4 (trong đó có 02 tờ giấy A4 có ghi các chữ và số, 03 tờ giấy A4 không ghi các chữ và số) và 02 tập sao kê tài khoản ngân hàng đã được đánh số bút lục.
- - Truy thu đối với Trần Tuấn D số tiền 550.000.000đồng là tiền gốc Trần Tuấn D đã dùng để cho anh Hoàng Anh T2 và anh Phạm Xuân B vay và số tiền 14.597.260đồng là khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự 20%/năm mà D đã thu của anh Hoàng Anh T2 và anh Phạm Xuân B, để sung vào ngân sách Nhà nước. Tổng cộng số tiền truy thu của Trần Tuấn D để sung vào ngân sách Nhà nước là 564.597.260đồng, làm tròn là 564.597.000đồng (năm trăm sáu mươi tư triệu năm trăm chín mươi bảy nghìn đồng).
-
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí toà án, bị cáo Trần Tuấn D phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Thảo |
Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 34/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Tuấn D phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
