Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HS-ST

Ngày 15-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Trần Thị Nơi
  2. Ông Nguyễn Văn Thực.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hà Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS, ngày 01 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Đăng P, sinh ngày 10 tháng 9 năm 1972, tại huyện H, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đăng T (đã chết) và bà Phạm Thị R, sinh năm 1935; có vợ là chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1967; có 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2004; Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 05-12-2023, hiện tại ngoại - có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Trần Đăng T1, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình (có mặt).

- Những người làm chứng:

  1. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1997 (vắng mặt).
  2. Bà Lê Thị R1, sinh năm 1969 (vắng mặt).
  3. Ông Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1948 (vắng mặt).
  4. Ông Trần Đăng M1, sinh năm 1966 (vắng mặt).
  5. Chị Phạm Thị B, sinh năm 1975 (vắng mặt).
  6. Anh Trần Đăng T2, sinh năm 1970 (có mặt).
  7. Anh Trần Đăng D, sinh năm 1978 (vắng mặt).
  8. Ông Trần Văn L1, sinh năm 1960 (vắng mặt).
  9. Anh Trần Đăng B1, sinh năm 1991 (có mặt).

Đều cư trú tại: Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 11-10-2023, Trần Đăng P đi ra cánh đồng thôn T, xã H để mót lúa. Khi đi đến thửa ruộng nhà anh Trần Đăng T1 ở cùng thôn, Phan thấy máy gặt đi qua và ở gần bờ còn một vài cây lúa chưa gặt nên xuống ruộng, dùng tay ngắt những cây lúa này. Anh T1 đứng ở trên đường bê tông nói không cho Phan ngắt lúa trên thửa ruộng nhà mình do máy gặt vẫn đang gặt và yêu cầu Phan lên bờ nhưng P vẫn tiếp tục ngắt lúa nên T1 dùng hai tay luồn từ phía sau ra trước Phan rồi sốc nách Phan lên và đặt Phan ngồi xuống đường bê tông sát vị trí P đang ngắt lúa. Sau đó anh T1 và Phan lời qua tiếng lại. Anh T1 dùng tay đẩy Phan ra, P dùng tay phải cầm chiếc điếu cày bằng tre, hình trụ tròn, chiều dài 55,8cm, đường kính 4,2cm, bọc ngoài bằng kim loại sáng màu, một đầu được bọc kín bằng kim loại, thân điếu và lõ điếu bọc kim loại sáng màu của ông Trần Văn L1 đang để trên đường bê tông cách Phan khoảng 2 mét, là hung khí nguy hiểm giơ lên vụt 01 nhát theo chiều ngang từ phải sang trái trúng vào hàm dưới bên trái của anh T1. Sau đó, anh T1 đẩy Phan ra khiến Phan quay lưng lại phía T1, rồi dùng tay phải đấm liên tiếp 02 nhát trúng vào vùng đầu sau gáy của P. Lúc này bà Lê Thị R1, ông Nguyễn Ngọc M, ông Trần Đăng M1, chị Phạm Thị B, anh Trần Đăng T2, anh Trần Đăng D, ông Trần Văn L1 ở cùng thôn đang gặt lúa ở gần đó can ngăn nên anh T1 và Phan dừng lại. Hậu quả: Anh T1 bị gãy xương hàm dưới và gãy xương góc hàm dưới bên trái, được điều trị tại Bệnh viện Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình, sau chuyển Bệnh viện đa khoa tỉnh T. Phan bị sưng tấy vùng đầu sau gáy.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 455/KLTTCT-TTPY ngày 20-11-2023 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh T kết luận đối với thương tích của Trần Đăng T1: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của từng thương tích đối với Trần Đăng T1 tại thời điểm giám định: Niêm mạc vùng tam giác hậu hàm dưới bên trái có vết thương nhỏ chưa cắt chỉ: 01%; ngách tiền đình hàm dưới vùng cằm có vết thương nhỏ chưa cắt chỉ: 01%; gãy xương hàm dưới và gãy xương góc hàm trái: 09%; gãy xương góc hàm trái qua răng 38 (nhổ răng 38): 01% Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Đăng T1 tại thời điểm giám định là 12%. Cơ chế hình thành thương tích: do vật tầy cứng gây nên.

Bản cáo trạng số 31/CT-KSHH ngày 14-3-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Trần Đăng P về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo Trần Đăng P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không chấp nhận mức bồi thường cho anh T1 số tiền anh T1 yêu cầu là 58.730.468 đồng, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị hại anh T1 đề nghị HĐXX xét xử bị cáo đúng pháp luật. Về trách nhiệm bồi thường, buộc bị cáo phải bồi thường cho anh tổng số tiền 58.730.468 đồng gồm các khoản sau:

  • - Tiền chữa trị thương tích tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh là 10.575.168 đồng (từ ngày 11-10-2023 đến ngày 23-10-2023);
  • - Tiền thuê xe đi chữa trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh là 400.000 đồng;
  • - Tiền công không lao động được 12 ngày x 400.000 đồng = 4.800.000 đồng;
  • - Tiền công người chăm sóc 12 ngày = 1.345.900 đồng;
  • - Tiền thuê xe đi giám định là 400.000 đồng;
  • - Tiền xăng xe đi khám lại là 100.000 đồng;
  • - Tiền chụp CT khi khám lại là 1.044.000 đồng;
  • - Tiền chụp X quang khi đi khám lại là 65.400 đồng;
  • - Tiền tổn thất tinh thần là 40.000.000 đồng.

Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm bất cứ khoản tiền nào khác.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Trần Đăng P về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) tuyên bố bị cáo Trần Đăng P phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Đăng P từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Đề nghị HĐXX tuyên buộc bị cáo Trần Đăng P phải bồi thường cho anh chi phí chữa trị thương tích với số tiền từ 25.000.0000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc điếu cày bằng tre, hình trụ tròn, dài 55,8 cm, đường kính 4,2 cm, một đầu được bọc kín bằng kim loại, thân điếu và lõ điếu bọc ngoài bằng kim loại; Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo và bị hại không có ý kiến tranh luận. Bị cáo không có nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo Trần Đăng P tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Đơn trình báo và lời khai của anh Trần Đăng B1; Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm do Công an xã H ngày 11-10-2023; Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường và Bản ảnh do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H lập ngày 10-10-2023; Lời khai của bị hại là anh Trần Đăng T1; Lời khai của những người làm chứng bà Lê Thị R1, ông Nguyễn Ngọc M, ông Trần Đăng M1, chị Phạm Thị B, anh Trần Đăng T2, anh Trần Đăng D, ông Trần Văn L1, chị Nguyễn Thị H; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu do Công an xã H, huyện H lập ngày 12-10-2023; Giấy chứng nhận thương tích ngày 13-10-2023 của Bệnh viện Đ, huyện H đối với anh Trần Đăng T1; Giấy chứng nhận thương tích ngày 20-10-2023 và Bệnh án của Trần Đăng T1 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T; Công văn số 617 ngày 06-11-2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H; Công văn số 1824 ngày 14-11-2023 của Bệnh viện đa khoa tỉnh T; Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 455/KLTTCT-TTPY ngày 20-11-2023 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh T; Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 453/KLTTCT-TTPY ngày 01-11-2023 của Trung tâm pháp y -Sở y tế tỉnh T cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 11-10-2023, tại cánh đồng thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình, bị cáo Trần Đăng P có hành vi dùng tay phải cầm chiếc điếu cày bằng tre, hình trụ tròn, chiều dài 55,8cm, đường kính 4,2cm, bọc ngoài bằng kim loại sáng màu, một đầu được bọc kín bằng kim loại, thân điếu và lõ điều bọc kim loại là hung khí nguy hiểm vụt 01 nhát theo chiều ngang từ phải sang trái trúng vào hàm dưới bên trái của anh Trần Đăng T1 ở cùng thôn làm anh T1 bị gãy xương hàm dưới và gãy xương góc hàm dưới bên trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 12%.

Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Đăng P đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự thuộc trường hợp định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tội phạm và hình phạt được quy định như sau:

“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

  1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
    • Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
    • Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
    • Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
    • Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
    • Có tổ chức;
    • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
    • Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
    • Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
    • Có tính chất côn đồ;
    • Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
    • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
    • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;
    • Phạm tội 02 lần trở lên;
    • Tái phạm nguy hiểm;
    • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Trần Đăng P về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo HĐXX thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền được bảo vệ về sức khỏe, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc loại tội nghiêm trọng.

[5] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy: Bị cáo có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn nên bị cáo được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Từ các nhận xét trên, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời góp phần phòng ngừa chung.

[6] Về trách nhiệm bồi thường: Tại phiên tòa, bị hại anh T1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền chữa trị thương tích, tiền bồi dưỡng sức khỏe và tổn thất tinh thần do bị cáo Phan g ra đối với anh, tổng số tiền là 58.730.468 đồng, bị cáo đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử thấy các khoản tiền anh T1 yêu cầu bị cáo Phan phải bồi thường có căn cứ chấp nhận gồm:

  • - Tiền chữa trị thương tích tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh là 10.575.168 đồng ( từ ngày 11-10-2023 đến ngày 23-10-2023);
  • - Tiền thuê xe đi chữa trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh là 400.000 đồng;
  • - Tiền công người chăm sóc 12 ngày = 1.345.900 đồng;
  • - Tiền thuê xe đi giám định là 400.000 đồng;
  • - Tiền xăng xe đi khám lại là 100.000 đồng;
  • - Tiền chụp CT khi khám lại là 1.044.000 đồng;
  • - Tiền chụp X quang khi đi khám lại là 65.400 đồng;

Đối với số tiền công không lao động được 12 ngày do phải nằm viện x 400.000 đồng = 4.800.000 đồng, hội đồng xét xử thấy theo xác minh mức thu nhập lao động bình quân ở địa phương với mức 200.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần là 40.000.000 đồng thấy có căn cứ chấp nhận tương đương với 8 tháng lương tối thiểu mức 1. 800.000 đồng/tháng là phù hợp. Tổng số tiền thực tế chữa trị thương tích được chấp nhận là 30.730.468 đồng.

[7] Đối với hành vi gây thương tích của Trần Đăng T1 đối với bị cáo P. Quá trình điều tra xác định ngày 11-10-2023 sau khi bị cáo P dùng điếu cày vụt anh T1 thì anh T1 có hành vi dùng tay phải đấm 02 nhát trúng vào vùng đầu sau gáy của bị cáo P dẫn đến sưng tấy, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với P là 00%. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xử phạt hành chính đối với Trần Đăng T1 là đúng quy định pháp luật.

[8] Về vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chiếc điếu cày bằng tre, hình trụ tròn, chiều dài 55,8cm, đường kính 4,2cm, bọc ngoài bằng kim loại sáng màu, một đầu được bọc kín bằng kim loại, thân điếu và lõ điều bọc kim loại của ông L1, ông L1 không có nhu cầu nhận lại vì vậy cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật.

[9] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà là phù hợp nên cần chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 30.730.468 đồng x5% = 1.536.523 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Đăng P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Đăng P 02 (hai) năm tù . Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
  3. Về trách nhiệm bồi thường: Áp dụng các Điều 584, Điều 585 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự, Điều 48 Bộ luật Hình sự. Buộc bị cáo Trần Đăng P phải bồi thường cho anh Trần Đăng T1 số tiền 30.730.468 đồng (Ba mươi triệu bảy trăm ba mươi nghìn bốn trăm sáu mươi tám đồng).

    Kể từ ngày người có đơn yêu cầu thi hành án hợp lệ nếu bị cáo không thi hành khoản tiền trên thì còn phải chịu lãi suất theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc điếu cày bằng tre, hình trụ tròn, dài 55,8 cm, đường kính 4,2 cm, một đầu được bọc kín bằng kim loại, thân điếu và lõ điếu bọc ngoài bằng kim loại đã qua sử dụng.

    Vật chứng của vụ án hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15-3-2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Đăng P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.536.523 đồng (Một triệu năm trăm ba mươi sáu nghìn năm trăm hai mươi ba đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Tòa án ND tỉnh Thái Bình;
  • - Công an huyện Hưng Hà;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát ND huyện Hưng Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Hưng Hà;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)




Nguyễn Bích Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 15/04/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 34/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Đăng Phan về tội “Cố ý gây thương tích”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger