|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2024/HS-ST Ngày: 20-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Út Lệ
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Huyên
Ông Doanh Thiêm Vân
Thư ký phiên tòa: Bà La Quỳnh Anh - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn tham gia phiên tòa:
Ông Lăng Văn Ánh và bà Hoàng Hải Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Lương Hồng T (Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 29 tháng 4 năm 2001 tại huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Khu A, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lương Ngọc T1, sinh năm 1975 và bà Trương Thị N, sinh năm 1977; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: Không có.
Tiền sự: Ngày 19/5/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 08/2021/QĐ-TA trong thời hạn 20 tháng, chấp hành xong ngày 06/12/2022.
Nhân thân: Bản án số 11/2019/HS-ST, ngày 26/4/2019, Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS, chấp hành xong bản án ngày 04/3/2020 (thời điểm tuyên án T chưa đủ 18 tuổi nên được coi là không có án tích);
Ngày 18/9/2020, bị Công an xã B xử phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 10/QĐ-XPHC; Ngày 03/11/2020 bị Ủy ban nhân dân xã B ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã theo Quyết định số 206a/QĐ-UBND, chấp hành xong ngày 05/02/2021; Ngày 18/3/2021, bị Công an xã B xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 01/QĐ-XPVPHC, chấp hành xong ngày 18/3/2021.
Ngày 13/3/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 07/2024/QĐ-TA trong thời hạn 24 tháng (Ngày Quyết định có hiệu lực 29/3/2024). Hiện đang chấp hành Quyết định tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Kạn từ ngày 30/4/2024 (Có mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Sầm Đức T2 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (Có mặt).
* Bị hại: Bà Hoàng Thị A, sinh năm 1969; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Địa chỉ: Khu C, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lương Ngọc T1, sinh năm 1975; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Địa chỉ: Khu A, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Có mặt).
* Người làm chứng:
Bà Tống Thị N1, sinh năm 1980 - Địa chỉ: Khu C, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Vắng mặt).
Chị Hoàng Thị H, sinh năm 2006 - Địa chỉ: Khu C, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Người đại diện hợp pháp: Bà Tống Thị N1, sinh năm 1980 - Địa chỉ: Khu C, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Đều vắng mặt).
Chị Trịnh Thị Kim T3, sinh năm 2005 - Địa chỉ: Tổ A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 21/3/2024, Lương Hồng T đi ngang qua ngôi nhà của bà Hoàng Thị A tại Khu C, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (gia đình bà A không sinh sống ở đây mà chỉ mở quầy thuốc tân dược bán hàng vào ban ngày) thì thấy khóa cửa ngoài, T nghĩ gia đình bà A kinh doanh sẽ có tiền trong nhà nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 02 giờ sáng ngày 22/3/2024, T chuẩn bị và mang theo 02 thanh kim loại (thép) dài khoảng 10cm, một thanh hình chữ “L” và một thanh đã được mài giống hình đầu chìa khóa, 01 đèn pin (loại đèn đội đầu), mặc quần áo dài, đội mũ lưỡi trai, đeo khẩu trang rồi một mình đi xe mô tô của gia đình (xe nhãn hiệu SYM, không rõ biển số) từ nhà theo Quốc lộ C qua nhà bà A một đoạn khoảng 100 mét rồi dừng xe, để xe vào cạnh lề đường và đi bộ quay lại nhà bà A. Sau khi quan sát xung quanh không có ai, T dùng đèn pin đã mang theo để chiếu sáng và sử dụng 02 thanh thép mang theo tra vào lỗ khóa để mở khóa cửa nhà bà A (có 02 lớp cửa), sau khi mở được cửa nhà bà A, T đi vào nhà, tiến đến khu vực cầu dao điện ở phía bên phải nhà (hướng từ cửa đi vào) và ngắt cầu dao điện. Sau đó, T đi vào khu vực quầy thuốc thì thấy có 01 hộp nhỏ bằng kim loại đựng tiền để ở tủ thuốc, T lấy được số tiền 2.000.000 đồng trong hộp nhỏ này và cho tiền vào túi quần đang mặc. Sau khi ra khỏi khu vực quầy thuốc, T nhìn thấy gần tường phòng khách có 01 chiếc két sắt, T sử dụng 02 thanh thép mang theo tra vào lỗ khóa két và mở được cửa két sắt. Thấy trong két sắt có nhiều giấy tờ và tiền lẻ cùng 02 chiếc chìa khóa và 01 ngăn nhỏ đã khóa, T dùng 02 chiếc chìa khóa này mở được ngăn nhỏ, thấy
trong ngăn nhỏ có nhiều cọc tiền và nhiều hộp nhựa màu đỏ bên trong đựng trang sức vàng, T rút tiền từ 02 cọc tiền và lấy 02 chiếc nhẫn vàng, trong đó 01 chiếc có đính mặt đá màu hồng, một chiếc mặt vuông có in chữ (dạng chữ Trung Quốc) rồi để tiền và vàng vào túi quần đang mặc. Sau đó, T khóa lại ngăn nhỏ trong két và két sắt, mở cầu dao điện, khóa lại cửa nhà bà A và điều khiển xe mô tô đi về nhà. Về đến nhà, T kiểm tra tổng số tiền mặt vừa trộm được là 22.000.000 đồng, sau đó T để số tài sản vừa trộm được vào 01 chiếc túi và đi ngủ. Khoảng 07 giờ sáng cùng ngày, T một mình điều khiển xe mô tô mang theo 02 chiếc nhẫn vàng cùng 05 triệu đồng tiền mặt đi đến trung tâm thành phố C. Đến khoảng 10 giờ, T đi vào cửa hàng vàng bạc Kim T4 ở thành phố C bán 02 chiếc nhẫn với chị Trịnh Thị Kim T3 - nhân viên cửa hàng được số tiền 32.211.000 đồng. Sau đó, T chơi nhà người quen tại thành phố C rồi đi về nhà.
Đến khoảng 03 giờ 00 phút ngày 24/3/2024, T lại tiếp tục đi xe mô tô đến nhà bà A để trộm cắp tài sản, T vẫn mang theo 02 thanh thép, 01 đèn pin và để xe tại chỗ hôm trước. Sau khi đã mở được cửa nhà bà A bằng 02 thanh thép mang theo, T đi đến khu vực cầu dao điện ngắt điện, sau đó đi thẳng đến nơi đặt chiếc két sắt, T mở két sắt bằng 02 thanh thép rồi lại lấy chìa khóa có sẵn trong két để mở ngăn nhỏ của két, rồi rút lấy số tiền 5.000.000 đồng cùng 01 đôi khuyên tai vàng và 01 chiếc nhẫn vàng. Trong khi T đang trộm cắp trong nhà bà A thì bà Tống Thị N1 và chị Hoàng Thị H đến ngôi nhà sát vách với nhà bà A (bà N1 và chị H sống ở nhà khác nhưng đến đây mở quán hàng bán bánh cuốn buổi sáng) thì thấy khóa cửa nhà bà A rơi trên nền hiên nhà, bà N1 và chị H vào nhà của mình và bật điện lên, bật cả bóng điện ở ngoài sân, sau đó bà N1 gọi điện thoại cho bà A nói rằng thấy nhà bà A mở cửa nghi bị trộm cắp tài sản. Về phía T, sau khi lấy được tài sản, T khóa ngăn nhỏ trong két và két sắt lại, mở cầu dao điện và khóa lại cửa nhà bà A, khi đã khóa được 01 lớp cửa bên trong, lớp cửa ngoài T mới móc lại được ổ khóa, lúc này T đang đứng ở hiên nhà bà A thì bị bà N1 và chị H bắt gặp (chị H và bà N1 đang ở trong nhà thì nghe thấy tiếng động phía nhà bà A nên đi ra ngoài xem thì thấy T từ nhà bà A đi ra), sau đó bà N1 có nói “Sao lại lấy trộm tài sản ở đây, tao báo công an bây giờ” thì T nói “Cô ơi cháu chưa lấy được gì đâu, cô đừng báo công an nhé” và T đi lên sân nhà bà N1 rồi bỏ khẩu trang ra và nói “Cháu T mà” (lúc này bà N1 và chị H mới biết người đi ra từ nhà bà A là Lương Hồng T). Khoảng 02 phút sau, bà A đi bộ đến và dùng tay kéo khẩu trang của T ra và bà A nói “Thằng T sao mày trộm nhà bá”, T nói “Cháu chưa lấy được gì cả, cho cháu xin”, bà A kiểm tra thì thấy cửa sắt ngoài mở nhưng lớp cửa bên trong vẫn khóa nên nghĩ T chưa vào được nhà và để cho T đi.
Sau đó, T lấy xe mô tô đi về nhà và mang theo quần áo cùng số tiền, vàng đã trộm được của ngày hôm trước và vừa trộm cắp được xuống huyện C, tỉnh Bắc Kạn rồi tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Bắc Ninh. Trong thời gian ở các nơi này, T đã sử dụng số tiền trộm cắp được để chi tiêu, trả tiền thuê nhà nghỉ, thuê trọ và mua ma túy để sử dụng. Khi ở tỉnh Bắc Ninh, do đã tiêu hết tiền mặt nên T đã bán 01 chiếc nhẫn và 01 đôi khuyên tai vàng trộm cắp được tại các cửa hàng vàng bạc (không nhớ tên cửa hàng, địa chỉ) được tổng số tiền hơn 15.000.000 đồng (chiếc nhẫn 0,5
chỉ bán được hơn 3.000.000 đồng và đôi khuyên tai mỗi chiếc 01 chỉ bán được hơn 12.000.000 đồng). Số tiền có được T cũng tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 28/4/2024, T trở về nhà và được cơ quan công an triệu tập đến làm việc.
Sáng ngày 24/3/2024 bà A sau khi kiểm đếm tài sản đã phát hiện bị mất trộm tài sản là tiền, vàng, xem camera của gia đình phát hiện có đối tượng đột nhập vào nhà nên đã trình báo vụ trộm đến cơ quan Công an. Bà A xác nhận đã bị mất trộm số, vàng phù hợp với lời khai nhận của Lương Hồng T.
Tại Kết luận định giá tài sản số 22 ngày ngày 05/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện N kết luận: 01 nhẫn bằng vàng, có mặt đính đá, khối lượng 03 chỉ và 01 nhẫn bằng vàng, có mặt hình vuông, khối lượng 1,99 chỉ có tổng giá trị là 33.211.000 đồng. 01 đôi khuyên tai bằng vàng, tổng khối lượng 02 chỉ và 01 nhẫn bằng vàng, hình tròn trơn, khối lượng 0,5 chỉ có tổng giá trị là 16.875.000 đồng.
Như vậy, tổng giá trị tài sản Lương Hồng T trộm cắp được vào ngày 22/3/2024 là 22.000.000 đồng tiền mặt và 4,99 chỉ vàng (trang sức) trị giá 33.211.000 đồng, tổng cộng là 55.211.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Lương Hồng T trộm cắp được vào ngày 24/3/2024 là 5.000.000 đồng tiền mặt và 2,5 chỉ vàng (trang sức) trị giá 16.875.000 đồng, tổng cộng là 21.875.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Lương Hồng T đã trộm cắp được là 77.086.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKSNS, ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn đã truy tố bị cáo Lương Hồng T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, Điều 38, điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự năm 2015, buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 17.000.000 đồng.
- Về án phí: Đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo có bản bào chữa nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, hình phạt bổ sung, án phí. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 30 đến 36 tháng tù.
Bị hại trình bày: Trước phiên tòa, gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền 60.000.000 đồng cho bị hại. Bị hại yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường số tiền còn lại là 17.000.000 đồng, ngoài ra không có yêu cầu bồi thường gì thêm và có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày trước phiên tòa, bị cáo đã tác động gia đình để bồi thường cho bị hại số tiền 60.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền này.
Bị cáo khai nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn đã truy tố và nhất trí với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên, bản bào chữa của người bào chữa. Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bổ sung bào chữa hay khiếu nại gì. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có tranh luận. Lời sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, những người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai và ý kiến trong hồ sơ vụ án. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện, khách quan, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, camera ghi hình thu được và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Lợi dụng đêm tối, gia đình bị hại không có người trông coi, bị cáo Lương Hồng T đã một mình lén lút đột nhập, thực hiện 02 hành vi trộm cắp tài sản của bà Hoàng Thị A tại Khu C, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, cụ thể: Lần thứ nhất: Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 22/3/2024, bị cáo trộm cắp được số tiền 22 triệu đồng và 01 nhẫn bằng vàng, có mặt đính đá, khối lượng 03 chỉ, 01 nhẫn bằng vàng, có mặt hình vuông, khối lượng 1,99 chỉ tổng trị giá 33.211.000 đồng, tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp được là 55.211.000 đồng; Lần thứ 2: Vào khoảng 03 giờ 00 phút ngày 24/3/2024, bị cáo trộm cắp được số tiền 5.000.000 đồng và 01 đôi khuyên tai bằng vàng, tổng khối lượng 02 chỉ và 01 nhẫn bằng vàng, hình tròn trơn, khối lượng 0,5 chỉ, trị giá 16.875.000, tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp được là 21.875.000 đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt được qua 02 hành vi phạm tội là 77.086.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”
Do đó, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn đã truy tố bị cáo theo tội danh và Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, gây mất trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn huyện, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản của mình. Bị cáo là thanh niên nhưng lười lao động, không chịu khó làm ăn, tu dưỡng đạo đức, nghiện ma túy, thích hưởng thụ tài sản trên công sức lao động của người khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, hình phạt đối với bị cáo.
Bị cáo không có tiền án, có 01 tiền sự. Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xét xử về tội trộm cắp tài sản, bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa chữa mà tiếp tục phạm tội. Qua đó, thể hiện bị cáo coi thường pháp luật, vì vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.
Bị cáo thực hiện 02 hành vi trộm cắp tài sản vào các ngày 22/3/2024 và 24/3/2024 nên phải chịu 01 tình tiết tăng nặng là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo tự thú (tự khai nhận hành vi phạm tội ngày 22/3/2024), thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Trước phiên tòa, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại, Bị cáo có ông nội là Lương Văn T5 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Nhất, Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất và Huân chương kháng chiến hạng Ba. Tại phiên tòa, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do
vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Về hình phạt
Hình phạt chính: Cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là cần thiết mới đảm bảo giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho gia đình, xã hội và đáp ứng yêu cầu của việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Người bào chữa tại phiên tòa đã đưa ra được những chứng cứ chứng minh về các tình tiết giảm nhẹ và các chứng cứ khác nhằm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xét thấy bản bào chữa của người bào chữa có căn cứ và cơ sở pháp luật, do vậy cần chấp nhận.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản, thu nhập do đó không xem xét áp dụng.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, truy tố bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 77.000.000 đồng tương ứng với số tiền, vàng (theo kết quả định giá) đã bị bị cáo chiếm đoạt. Trước phiên tòa, bị cáo đã tác động gia đình đã bồi thường được cho bị hại số tiền 60.000.000 đồng. Bị hại yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại 17.000.000 đồng, bị cáo nhất trí với yêu cầu của bị hại. Xét yêu cầu của bị hại là có căn cứ và hợp pháp nên cần buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 17.000.000 đồng.
[7] Về xử lý vật chứng trong vụ án: Đối với các tài sản tiền, vàng là tài sản bị cáo chiếm đoạt, đã bán và tiêu xài hết, cơ quan điều tra không thu giữ lại được.
Đối với 02 thanh kim loại bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp, bị cáo đã vứt đi, chiếc đèn pin bị cáo sử dụng để trộm cắp sau đó để đâu không nhớ, cơ quan điều tra không thu giữ lại được.
Đối với chiếc xe mô tô bị cáo sử dụng đi trộm cắp, quá trình ở tỉnh Bắc Ninh bị cáo đã bán chiếc xe đi cơ quan điều tra không thu giữ lại được. Xét chiếc xe là tài sản chung của gia đình bị cáo, việc bị cáo bán chiếc xe gia đình có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Vấn đề liên quan trong vụ án:
Đối với việc bị cáo khai được sử dụng tiền trộm cắp được để mua ma túy (heroine) về sử dụng và không biết tên tuổi, địa chỉ người bán, quá trình điều tra không xác định được danh tính, địa chỉ của người đã bán ma túy cho bị cáo nên cơ quan điều tra không đủ căn cứ xem xét xử lý.
Đối với số vàng bị cáo đã bán cho cửa hàng V, quá trình điều tra xác định nhân viên cửa hàng không biết tài sản do bị cáo trộm cắp mà có, số vàng mua được cửa hàng đã gia công thành sản phẩm khác, do đó không có căn cứ xử lý và thu hồi tài sản.
Đối với số vàng bị cáo đã bán cho cửa hàng vàng bạc ở khu vực tỉnh Bắc Ninh, do không có địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xem xét xử lý và thu hồi tài sản.
[9] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ và có đơn xin miễn
án phí. Do vậy bị cáo được miễn toàn bộ án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lương Hồng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, Điều 38, điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Lương Hồng T phải bồi thường cho bị hại Hoàng Thị A sinh năm 1969 - Địa chỉ: Khu C, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn số tiền 17.000.000₫ (Mười bảy triệu đồng).
Việc thi hành án đối với khoản tiền này được thực hiện theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo được miễn án phí hình sự, dân sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười năm ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Út Lệ |
Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 34/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
