TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ TỈNH NINH BÌNH Bản án số: 35/2024/HS-ST Ngày: 19-9-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Mão và ông Phạm Văn Toan
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Việt Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Cao Văn M
- Sinh ngày 17 tháng 4 năm 1997; tại: huyện P, tỉnh Thái Nguyên; nơi cư trú: xóm T, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn H và con bà Dương Thị C; bị cáo có vợ là Tống Thị H1 và 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự, nhân thân: không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 06/3/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh N theo Quyết định tạm giam số 27/2024/HSST-QĐTG ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)
- Bị hại:
- Anh Trần Văn P, sinh năm 1983 trú tại: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)
- Anh Phan Văn T, sinh năm: 1985, trú tại: thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Lại Duy N, sinh năm 2002, trú tại: xóm H, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Đinh Văn T1, sinh năm 1987, trú tại: thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Phạm Đăng L, sinh năm 1989, trú tại: xóm Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Trần Quốc T2, sinh năm 1983, trú tại: xóm T, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Đặng Văn T3, sinh năm 1986, trú tại: xóm E, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Đoàn Sỹ H2, sinh năm 1988, trú tại: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Đoàn Sỹ H3, sinh năm 1984, trú tại: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Phạm Văn Q, sinh năm 1986, trú tại: Thôn N, xã X, huyện K, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Phạm Văn T4, sinh năm 1983, trú tại: Tổ dân phố số G, thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam Định. (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Ngọc T5, sinh năm 1986, trú tại: xóm T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Trần Văn Á, sinh năm 1989, trú tại: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Phạm Thế Đ, sinh năm 1984, trú tại: xóm T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Vũ Công T6, sinh năm 1994, trú tại: xóm T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn T7, sinh năm 1975, trú tại: xóm F, xã M, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Đinh Ngọc H4, sinh năm 1981, trú tại: Thôn B, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Tạ Văn K, sinh năm 1987, trú tại: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Phạm Xuân M1, sinh năm 1989, trú tại: Thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn T8, sinh năm 1990, trú tại: xóm A, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Trịnh Văn L1, sinh năm 1990, trú tại: xóm F, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Bùi Xuân S, sinh năm 1979, trú tại: Thôn V, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Đỗ Văn T9, sinh năm 1987, trú tại: Thôn A, xã X, huyện K, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Trần Văn P1, sinh năm 1995, trú tại: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Phạm Xuân V, sinh năm 1994, trú tại: Thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Mai Văn M2, sinh năm 1979, trú tại: Đ xóm H, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Đỗ Khắc T10, sinh năm 1981, trú tại: Đường A Đ, xã X, huyện K, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Trần Văn T11 sinh năm 1999 trú tại: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn S1 sinh năm 1997 trú tại: Đường A Đ, xã X, huyện K, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn P2 sinh năm 1990 trú tại: xóm B, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Trịnh Văn C1 sinh năm 1992 trú tại: Đường A Đ, xã X, huyện K, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Lưu Văn H5 sinh năm 1988 trú tại: Đường A Đ, xã X, huyện K, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Hà Văn D sinh năm 1980 trú tại: xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. (vắng mặt)
- Anh Vũ Công T12 sinh năm 1995 trú tại: xóm T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Phạm Bá T13 sinh năm 1989 trú tại: xóm P, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Phạm Đắc L2 sinh năm 2001 trú tại: xóm P, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Phạm Xuân T14 sinh năm 1984 trú tại: xóm P, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Phạm Văn Đ1 sinh năm 1990 trú tại: xóm A, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Đinh Văn L3 sinh năm 1982 trú tại: xóm F, xã M, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Lưu Văn L4 sinh năm 1992 trú tại: Thôn N, xã X, huyện K, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Anh Trần Đức Bình s năm 1978 trú tại: Khu H, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)
- Chị Tạ Thị H6 sinh năm 1986 trú tại: Thôn V, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)
- Người làm chứng: chị Tống Thị H1. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cao Văn M là người không có công việc ổn định, không có chức năng tuyển dụng xuất khẩu lao động đi nước ngoài nhưng do cần tiền tiêu sài nên Cao Văn M sử dụng tài khoản zalo “Hoàng Singapo” đăng ký bằng số điện thoai 0394166036 của M rồi đăng các bài tuyển dụng lao động đi xuất khẩu tại Singapore. Cao Văn M thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản dưới hình thức đăng bài tuyển dụng thợ cơ khí đi xuất khẩu lao động tại Singapore rồi thu tiền đặt cọc làm hồ sơ của những người đăng ký mục đích để chiếm đoạt tiền của họ. Sau khi đăng bài Cao Văn M đã liên hệ với anh Nguyễn Văn T15, sinh năm 1991 trú tại tổ dân phố T, thị trấn P, huyện C, tỉnh Thanh Hóa và đưa ra thông tin gian dối nói mình là người của Công ty D1 và nói với anh T15 nếu giới thiệu được người đi Singapore sẽ được công ty D1 trả phí là 2.000.000 đồng/01 trường hợp, hoa hồng chia đôi cho mỗi người giới thiệu là 1.000.000 đồng. Tin lời nói của M là thật, anh T15 đã sử dụng tài khoản zalo “kenyhoanganh” đăng ký bằng số điện thoại 0977.339.xxx của anh Nguyễn Văn T15 để đăng bài, nhắn tin tuyển dụng thợ hàn đi xuất khẩu lao động tại Singapore và để lại số điện thoại 0977.339.xxx của anh T15 vào nhóm chát zalo có tên là “Nhóm thợ hàn 3g hải dương”.
Trong thời điểm từ ngày 07/09/2023 đến ngày 15/09/2023, Cao Văn M thông qua nhiều đầu mối đã 09 lần dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tổng số tiền 114.000.000 đồng của 42 người, cụ thể như sau:
Anh Trần Văn P sinh năm 1983 trú tại thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình là thợ cơ khí đang lao động tự do tại địa phương. Do có nhu cầu tìm việc làm nên anh P lên mạng tìm thông tin và tham gia nhóm chát trên zalo có tên “nhóm thợ hàn 3g hải dương”. Ngày 07/9/2023, qua nhóm chát Z thấy có bài đăng từ tài khoản “kenyhoanganh” đăng thông tin tuyển thợ hàn đi xuất khẩu lao động tại Singapore và có số điện thoại để liên hệ đăng ký. Do có nhu cầu đi xuất khẩu lao động nên anh P đã gọi đến số điện thoại 0977.339.xxx của anh Nguyễn Văn T15. Quá trình nói chuyện anh T15 nói bản thân không phải là người tuyển dụng lao động, chỉ đăng bài hộ để lấy người cho chủ và cung cấp cho anh P số điện thoại 0394.166.xxx của Cao Văn M. Ngay sau đó anh P gọi điện thoại cho Cao Văn M, M giới thiệu với anh P mình tên là Nguyễn Xuân K1, hiện đang làm cho công ty D1 của Hàn Quốc có dự án nhà máy lọc dầu tại Singapore. Công ty cần tuyển 04 thợ hàn ống phòng cháy, chữa cháy với mức lương từ 1500-2000 USD/tháng, nếu muốn đi thì đặt cọc 2.500.000 đồng để đăng ký làm thủ tục, khi làm thủ tục xong thì trước khi đi xuất khẩu lao động sẽ được hoàn trả lại toàn bộ số tiền đặt cọc. Sau khi thỏa thuận, Cao Văn M nhắn tin cho anh P yêu cầu anh P chuyển số tiền 2.500.000 đồng đặt cọc làm hồ sơ thì anh P đồng ý và hỏi xin thêm một vài xuất nữa cho bạn cũng muốn đi cùng thì M đồng ý. Sau đó anh P gửi vào tài khoản zalo “Hoàng Singapo” của M ảnh chụp căn cước công dân, hộ chiếu và ảnh chụp chân dung của anh P. Ngoài ra, anh P yêu cầu M gửi thông tin cá nhân thì M gửi căn cước công dân số [...] mang tên là Nguyễn Xuân K1 sinh năm 1988 trú tại thôn L, T, T, Nghệ An cho anh P xem để tạo lòng tin. Sau đó M nói với anh P, trước đây giao cho anh T15 tuyển người nhưng anh T15 không tuyển được, nếu anh P có bạn bè ai muốn đi thêm thì giới thiệu, công ty sẽ trả hoa hồng là 100USD/01 người, riêng anh P sẽ không phải mất chi phí đặt cọc và M sẽ trả hoa hồng cho anh P là 1.000.000 đồng/01 người thì anh P đồng ý. Sau đó anh P đã liên hệ với bạn bè làm việc cùng và giới thiệu ai có nhu cầu thì đăng ký với anh P. Từ ngày 08/9/2023 đến ngày 14/9/2023 anh P đã kết nối, liên hệ được 27 người đăng ký đi xuất khẩu lao động tại Singapore cùng anh P gồm: Anh Phan Văn T, sinh ngày 06/6/1985, trú tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Anh Lại Duy N, sinh ngày 11/7/2002, trú tại xóm H, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Anh Đinh Văn T1, sinh ngày 05/3/1987, trú tại thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; Anh Phạm Đăng L, sinh ngày 18/4/1989, trú tại thôn Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Anh Trần Quốc T2, sinh ngày 31/10/1983, trú tại xóm T, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; Anh Đặng Văn T3, sinh ngày 03/7/1986, trú tại xóm E, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Anh Đoàn Sỹ H2, sinh ngày 16/3/1988, trú tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Anh Đoàn Sỹ H3, Sinh ngày 10/3/1984, trú tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Anh Phạm Văn Q, sinh ngày 16/02/1986, trú tại thôn N, xã X, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Anh Phạm Văn T4, sinh ngày 16/11/1983, trú tại tổ dân phố số G, thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam Định; Anh Nguyễn Ngọc T5, sinh ngày 10/12/1986, trú tại xóm T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Anh Trần Văn Á, sinh ngày 08/4/1989, trú tại thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Anh Phạm Thế Đ, sinh ngày 20/7/1984, trú tại xóm T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Anh Vũ Công T6, sinh ngày 14/6/1994, trú tại xóm T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Anh Nguyễn Văn T7, sinh ngày 16/1/1975, trú tại xóm F, xã M, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Anh Đinh Ngọc H4, sinh ngày 09/11/1981, trú tại thôn B, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Anh Tạ Văn K, sinh ngày 01/01/1987, trú tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Anh Phạm Xuân M1, sinh ngày 22/9/1989, trú tại thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Anh Nguyễn Văn T8, sinh ngày 10/3/1990, trú tại xóm A, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Anh Trịnh Văn L1, sinh ngày 05/5/1990, trú tại xóm F, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Anh Bùi Xuân S, sinh ngày 03/02/1979, trú tại thôn V, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Anh Đỗ Văn T9, sinh ngày 03/02/1987, trú tai thôn A, xã X, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Anh Trần Văn P1, sinh ngày 05/10/1995, trú tại thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Anh Phạm Xuân V, sinh ngày 05/7/1994, trú tại thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Anh Mai Văn M2, sinh ngày 17/5/1979, trú tại đội 1 xóm H, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Anh Đô Khắc T10, sinh ngày 06/01/1981, trú tại đường A Đ, xã X, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Anh Trần Văn T11 sinh ngày 07/6/1999 trú tại thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Theo yêu cầu của M, anh P đã yêu cầu 27 người trên gửi ảnh chụp căn cước công dân, hộ chiếu, ảnh chân dung vào zalo cho anh P, đồng thời mỗi người đăng ký phải đặt cọc 2.500.000 đồng và anh P là người đứng ra thu tiền cọc. Sau đó 26 ng ười đưa tiền mặt hoặc chuyển tiền đặt cọc vào tài khoản số 8182837999999, ngân hàng M3 chi nhánh T17 của anh P. Sau khi thu được số tiền của 26 người cộng với tiền đặt cọc của anh P, riêng anh Lại Duy N nhờ anh Trần Văn P ứng trước cho mình 2.500.000 đồng (hiện nay anh N chưa trả tiền cho anh P). Từ ngày 08/09/2023 đến ngày 14/09/2023, anh P đã chuyển cho M tổng cộng 08 lần với tổng số tiền 70.000.000 đồng từ số tài khoản 8182837999999, ngân hàng M4 của anh P đến số tài khoản 106872710825, ngân hàng V1, chủ tài khoản tên Cao Văn M. Do trước đó M nói dối anh P tên là Nguyễn Xuân K1 nên khi yêu cầu anh P chuyển đến tài khoản tên Cao Văn M thì M nói dối đây là số tài khoản của anh M là kế toán của công ty để anh P tin tưởng chuyển tiền.
Thông qua anh Trần Văn P, Cao Văn M đã nhận được tiền đặt cọc của tổng số 28 người, sau đó những người này được M đưa vào nhóm chát zalo có tên là “Anh em đi Singapore”. Những người đăng ký khi được đưa vào nhóm chát zalo cũng chủ động rủ thêm anh em bạn bè đăng ký đi xuất khẩu lao động và đăng ký trực tiếp qua tài khoản “Hoàng Singapo” của Cao Văn M mà không qua anh Trần Văn P. Do vậy, Cao Văn M đã 08 lần nữa thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Anh Đỗ Văn T9, sinh năm 1987, trú tại thôn A, xã X, huyện K, tỉnh Ninh Bình là người đăng ký đi xuất khẩu lao động qua anh P có trong nhóm Z có tên “Anh em đi Singapore” có rủ thêm bạn bè đi xuất khẩu lao động nên đã chủ động liên lạc với Cao Văn M để đăng ký cho 06 người bao gồm: anh T9 tự dùng tiền của mình chuyển 2.500.000 đồng cho Cao Văn M để đăng ký thêm một suất nữa cho bạn tên là Ngọc A (chưa xác định được rõ thông tin lai lịch) tuy nhiên anh Ngọc A chưa đưa số tiền 2.500.000 đồng cho anh T9 thì anh T9 đã phát hiện bị M lừa và rủ được thêm 05 người là: Anh Nguyễn Văn S1 sinh năm 1997 trú tại đường A Đ, xã X, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Anh Nguyễn Văn P2 sinh năm 1990, trú tại xóm B, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Anh Trịnh Văn C1 sinh năm 1992 trú tại đường A Đ, xã X, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Anh Lưu Văn H5 sinh năm 1988 trú tại đường A Đ, xã X, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Anh Hà Văn D sinh năm 1980 trú tại xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định
Các anh Hà Văn D, anh Nguyễn Văn P2 gửi thông tin và chuyển tiền qua số tài khoản 0201000628024 ngân hàng V2 của anh Đỗ Văn T9 mỗi người 2.500.000 đồng sau đó anh T9 chuyển tiền từ số tài khoản trên của anh T9 qua số tài khoản 106872710825 ngân hàng V3 của Cao Văn M số tiền 7.500.000 đồng vào ngày 14/9/2023 tương ứng với tiền của anh D, anh P2 và anh T9 đăng ký thêm một suất. Anh Lưu Văn H5, Nguyễn Văn S1 và Trịnh Văn C1 được anh T9 gửi số tài khoản 106872710825 ngân hàng V3 của Cao Văn M để chuyển tiền, anh Lưu Văn H5 tự chuyển số tiền 2.500.000 đồng từ số tài khoản 3309205409385, Ngân hàng A1 đến số cho Cao Văn M vào ngày 14/9/2023; anh Nguyễn Văn S1 tự chuyển số tiền 2.500.000 đồng từ số tài khoản 19037860124019, Ngân hàng T18 đến số tài khoản 106872710825 ngân hàng V3 của Cao Văn M vào ngày 14/9/2023; anh Trịnh Văn C1 tự chuyển số tiền 2.500.000 đồng từ số tài khoản 9704229209462196346, Ngân hàng M4 đến số tài khoản 106872710825 ngân hàng V3 của Cao Văn M vào ngày 15/9/2023. Như vậy thông qua anh Đỗ Văn T9, Cao Văn M đã chiếm đoạt của 06 người gôm anh T9, anh D, anh P2, anh H5, anh S1, anh C1 số tiền 15.000.000 đồng.
Lần thứ hai: Anh Vũ Công T6, sinh năm 1994, trú tại xóm T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình là người đăng ký đi xuất khẩu lao động qua anh P có trong nhóm Z có tên “Anh em đi Singapore” có rủ thêm bạn bè đi xuất khẩu lao động nên đã chủ động liên lạc với Cao Văn M để đăng ký cho 05 người bao gồm: anh T6 tự dùng tiền của mình chuyển 2.500.000 đồng cho Cao Văn M để đăng ký thêm một suất nữa cho bạn tên là T16 (chưa rõ thông tin lai lịch), anh T16 chưa đưa số tiền 2.500.000 đồng cho anh T6 thì anh T6 phát hiện bị M lừa và rủ thêm được 04 người là: Anh Vũ Công T12 sinh năm 1995 trú tại xóm T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Anh Phạm Bá T13 sinh năm 1989 trú tại xóm P, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Anh Phạm Đắc L2 sinh năm 2001 trú tại xóm P, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Anh Phạm Xuân T14 sinh năm 1984 trú tại xóm P, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Các anh Phạm Đắc L2, anh Vũ Công T12 gửi thông tin và chuyển tiền qua số tài khoản 48810000609031 ngân hàng B2 của anh Vũ Công T6 mỗi người 2.500.000 đồng sau đó anh T6 chuyển tiền từ số tài khoản trên của anh Tó qua số tài khoản 106872710825 ngân hàng V3 của Cao Văn M số tiền 7.500.000 đồng vào ngày 13/9/2023. Như vậy Cao Văn M đã lừa đảo chiếm đoạt của anh T6, anh L2, anh T12 số tiền 7.500.000 đồng. Riêng anh Phạm Xuân T14 và anh Phạm Bá T13 tự liên lạc, trao đổi với Cao Văn M để đăng ký.
Lần thứ ba: Anh Phạm Xuân T14 thông qua anh Vũ Công T6 giới thiệu đã trực tiếp liên lạc với Cao Văn M để đăng ký, sau khi liên lạc, trao đổi anh Phạm Xuân T14 đã gửi thông tin và chuyển số tiền 2.500.000 đồng từ số tài khoản 1031000000133, Ngân hàng V2 đến số tài khoản 106872710825 ngân hàng V1 của Cao Văn M ngày 12/9/2023 và Cao Văn M đã chiếm đoạt số tiền này của anh T14.
Lần thứ tư: Anh Phạm Bá T13 thông qua anh Vũ Công T6 giới thiệu có rủ thêm bạn là anh Phạm Văn Đ1 sinh năm 1990 trú tại xóm A, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Anh T13 đã tự liên lạc với Cao Văn M, sau khi liên lạc đăng ký anh T13 đã gửi thông tin và chuyển số tiền 5.000.000 đồng từ số tài khoản 65019021988, Ngân hàng M3 của anh T13 đến số tài khoản 106872710825 ngân hàng V3 của Cao Văn M vào ngày 12/9/2023, M đã chiếm đoạt số tiền 5.000.000 đồng của anh T13 và anh Đồng
Lần thứ năm: Anh Nguyễn Văn T7 sinh năm 1975, trú tại xóm F, xã M, huyện Y, tỉnh Ninh Bình là người đăng ký đi xuất khẩu lao động qua anh P có trong nhóm Z có tên “Anh em đi Singapore” giới thiệu cho anh Đinh Văn L3 sinh năm 1982 trú tại xóm F, xã M, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, anh T7 nhắn tin trao đổi thông tin và đăng ký với Cao Văn M qua tài khoản zalo có tên là “H” sau đó anh L3 đã đưa tiền mặt cho anh T7 và nhờ anh T7 gửi thông tin và chuyển tiền hộ. Sau đó anh T7 chuyển số tiền 2.500.000 đồng từ số tài khoản 106872764234, ngân hàng V1 của anh T7 đến tài khoản số [...], ngân hàng V1 của Cao Văn M ngày 14/9/2023. Như vậy thông qua anh T7, Cao Văn M đã chiếm đoạt số tiền 2.500.000 đồng của anh Đinh Văn L3
Lần thứ sáu: Anh Nguyễn Văn T8 sinh năm 1990 trú tại xóm A, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình là người đăng ký đi xuất khẩu lao động qua anh P có trong nhóm Z có tên “Anh em đi Singapore” giới thiệu cho anh Lưu Văn L4 sinh năm 1992 trú tại thôn N, xã X, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Sau đó anh L4 tự liên hệ với Cao Văn M để đăng ký. Sau khi liên lạc để đăng ký với Cao Văn M, anh L4 đã gửi thông tin và chuyển đặt cọc số tiền 2.500.000 đồng từ số tài khoản 1702205261651, ngân hàng A1 đến tài khoản số [...], ngân hàng V1 của Cao Văn M ngày 11/9/2023. Như vậy thông qua anh T8, Cao Văn M đã chiếm đoạt số tiền 2.500.000 đồng của anh Lưu Văn L4
Lần thứ bẩy: Anh Phạm Thế Đ sinh năm 1984 trú tại xóm T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình là người đăng ký đi xuất khẩu lao động qua anh P có trong nhóm Z có tên “Anh em đi Singapore” giới thiệu cho anh Trần Đức Bình s năm 1978 trú tại khu H, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Sau đó anh B tự liên hệ với Cao Văn M để đăng ký. Sau khi liên lạc đăng ký với Cao Văn M anh B đã gửi thông tin và chuyển đặt cọc số tiền 2.500.000 đồng từ số tài khoản 106005654505, ngân hàng V4 đến tài khoản số [...], ngân hàng V1 của Cao Văn M ngày 10/9/202. Như vậy thông qua anh Đ giới thiệu, Cao Văn M đã chiếm đoạt số tiền 2.500.000 đồng của anh Trần Đức B1
Lần thứ tám: Anh Bùi Xuân S sinh năm 1979 trú tại thôn V, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình là người đăng ký đi xuất khẩu lao động qua anh P có trong nhóm Z có tên “Anh em đi Singapore” đã trực tiếp liên hệ với Cao Văn M để đăng ký thêm một xuất nấu ăn cho vợ là Tạ Thị H6 sinh năm 1986 trú tại thôn V, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Sau khi đồng ý cho anh S đăng ký thì Cao Văn M yêu cầu anh S chuyển 4.000.000 đồng cho xuất nấu ăn. Anh S đồng ý gửi thông tin và chuyển số tiền 4.000.000 đồng từ số tài khoản 0141000746101 ngân hàng V2 của anh S đến tài khoản số [...], ngân hàng V1 của Cao Văn M ngày 12/9/2023. Sau khi đăng ký, anh S thấy mối tuyển dụng này rẻ và công việc tốt nên đã tiếp tục đăng ký thêm một xuất làm lái xe đi xuất khẩu lao động cho người nhà nên ngày 13/9/2023 anh S đã chủ động tự chuyển số tiền 2.500.000 đồng từ số tài khoản 0141000746101 ngân hàng V2 của anh S đến tài khoản số [...], ngân hàng V1 của Cao Văn M để đặt cọc trước rồi mới rủ thêm người nhà nhưng chưa kịp rủ được người nhà thì anh S phát hiện việc M đã khóa zalo, chặn số điện thoại để lừa đảo chiếm đoạt tiền của mình. Như vậy Cao Văn M đã lừa đảo chiếm đoạt số tiền của anh S và chị H6 số tiền 6.500.000 đồng.
Sau khi nhận được tiền đặt cọc, để tạo niềm tin cho những người đã đăng ký đi xuất khẩu lao động, Cao Văn M đã sử dụng tài khoản zalo "Hoàng Singapo" nhắn tin lên nhóm chat mời những người đăng ký cùng đến nhà uống rượu mừng tân gia, có cả Giám đốc, kế toán, nhân viên công ty cũng sẽ có mặt và cung cấp địa chỉ ở xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa đến ngày 15/9/2023 sẽ gửi địa điểm chính xác. Ngoài ra còn hẹn ngày 22/9/2023 sẽ đến Ninh Bình gặp gỡ mọi người, ngày 23/9/2023 sẽ đưa tất cả lên Hà Nội khám sức khoẻ, thi tay nghề thông báo đợt 1 bay sang Singapore ngày 25/9/2023, đợt 2 bay ngày 30/9/2023. Tuy nhiên đến chiều ngày 15/9/2023, Cao Văn M tắt máy, khoá Zalo, cắt thông tin liên lạc.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã chứng minh Cao Văn M đã 09 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền của 42 người với tổng số tiền 114.000.000 đồng. Số tiền trên M đã ăn tiêu cá nhân hết nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Đối với điện thoại di động lắp sim số 0394166036 của Cao Văn M sử dụng đăng ký tài khoản zalo "Hoàng Singapo" sử dụng để liên lạc khi thực hiện hành vi phạm tội, M đã làm mất chiếc điện thoại trên vào khoảng tháng 9/2023 nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Tại Bản Cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 29 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Cao Văn M ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình để xét xử về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình giữ nguyên quyết định truy tố, đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Cao Văn M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo Cao Văn M tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận: Trong thời gian từ ngày 7/9/2023 đến ngày 15/9/2023, mặc dù không có chức năng tuyển dụng xuất khẩu lao động nhưng Cao Văn M đã sử dụng tài khoản zalo lấy tên "Hoàng Singapo" đăng ký bằng số điện thoại 0394.166.xxx của M, sau đó M giả danh là Nguyễn Xuân K1 nhân viên công ty L6 tại Hàn Quốc. M đăng bài trên mạng zalo và đưa ra những thông tin gian dối về việc tuyển người đi xuất khẩu lao động tại Singapore để các bị hại tin tưởng rồi yêu cầu mỗi người đi xuất khẩu nộp tiền đặt cọc để làm thủ tục. Sau khi nhận được tiền của các bị hại chuyển đến tài khoản của M, M đã khóa zalo và chặn các số điện thoại gọi đến. Cao Văn M đã chiếm đoạt tổng số tiền 114.000.000 đồng của 42 bị hại ở các địa bàn huyện Y, huyện G, huyện K, huyện Y, huyện H, tỉnh Ninh Bình; huyện N, tỉnh Nam Định và thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.
Tại Điều 174 của Bộ luật Hình sự quy định:
“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:
.........
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
.........
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;.........”
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, một khách thể quan trọng được pháp luật bảo vệ. Bị cáo Cao Văn M có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý đưa ra những thông tin gian dối để các bị hại tin tưởng và chuyển tiền đặt cọc cho bị cáo với tổng số tiền chiếm đoạt của 42 bị hại là 114.000.000 đồng nhằm mục đích tiêu sài cá nhân. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự nên việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô đối với bị cáo theo bản cáo trạng là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Cao Văn M có nhân thân tốt.
[4] Về hình phạt:
Bị cáo Cao Văn M tuy tuổi đời còn trẻ nhưng không chịu khó lao động, tu dưỡng, rèn luyện mà ham chơi, đua đòi nên dẫn đến con đường phạm tội. Bị cáo cáo không có chức năng tuyển dụng xuất khẩu lao động nhưng vẫn đưa ra những thông tin gian dối để các bị hại tin tưởng nhằm chiếm đoạt tài sản của họ; đến thời điểm này bị cáo vẫn chưa bồi thường thiệt hại cho các bị hại; hành vi của bị cáo và hậu quả gây ra là nghiêm trọng nên cần phải áp dụng một hình phạt thật nghiêm khắc, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời hạn nhất định đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời góp phần phòng ngừa chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã chiếm đoạt 114.000.000 đồng của 42 bị hại nên cần buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho các bị hại tương ứng với số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt của từng bị hại theo quy định tại khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586, khoản 1 Điều 589 của Bộ luật Dân sự. Bị cáo còn phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
[6] Bị cáo bị kết án, phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Điều 357, Điều 468, khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586, khoản 1 Điều 589 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Cao Văn M phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Cao Văn M 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam bị cáo là ngày 06/3/2024.
- Về trách nhiệm dân sự:
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Trần Văn P số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Vũ Công T6 số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Đỗ Văn T9 số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho vợ chồng anh Bùi Xuân S và chị Tạ Thị H6 số tiền 9.000.000 đồng (chín triệu đồng).
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Phan Văn T số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Đinh Văn T1 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Phạm Đăng L số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Trần Quốc T2 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Đặng Văn T3 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Đoàn Sỹ H2 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Đoàn Sỹ H3 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Phạm Văn Q số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Phạm Văn T4 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc T5 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Trần Văn Á số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Phạm Thế Đ số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn T7 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Đinh Ngọc H4 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Tạ Văn K số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Phạm Xuân M1 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn T8 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Trịnh Văn L1 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Trần Văn P1 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Phạm Xuân V số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Mai Văn M2 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Đỗ Khắc T10 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Trần Văn T11 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn S1 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn P2 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Trịnh Văn C1 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Lưu Văn H5 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Hà Văn D số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Vũ Công T12 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Phạm Bá T13 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Phạm Đắc L2 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Phạm Xuân T14 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Phạm Văn Đ1 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Đinh Văn L3 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Lưu Văn L4 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng);
- + Buộc bị cáo Cao Văn M phải bồi thường cho anh Trần Đức B1 số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí:
Buộc bị Cao Văn M phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.700.000 đồng (năm triệu bảy trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận :
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Thu Minh |
Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 35/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Cao Văn M phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điểm c khoản 2 Điều 174
