Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN IA GRAI

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 34/2024/HS-ST

Ngày: 17/9/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Đính;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Rcom Blan
  2. Ông Nguyễn Công Hoà

Thư ký phiên tòa: Ông Vương Tấn Lập – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17/9/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai, Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Siu T; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 01/01/2005, tại Gia Lai; Số định danh cá nhân: 064205006087; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Làng B, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai; Dân tộc: Gia Rai; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 0/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Puih G (đã chết) và bà Siu P; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/5/2024 đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Siu T: Ông Mai Văn T1 – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh G; Địa chỉ: Số A L, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Bị hại: Bà Đỗ Thị H; Sinh năm: 1984; Địa chỉ nơi cư trú: Làng L, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Ksor S; Sinh năm: 2008; Địa chỉ nơi cư trú: Làng Lang, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp của anh Ksor S: Ông Rơ Châm T2; Địa chỉ nơi cư trú: Làng Lang, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

  1. Bà Ksor P1; Sinh năm: 1984; Địa chỉ nơi cư trú: Làng L, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Người phiên dịch tiếng Jrai: Ông Puih D – Công tác tại Công an huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 22/4/2024, bị cáo Siu T nảy sinh ý định sau khi nhặt điều bán sẽ cướp giật tiền của người thu mua hạt điều nên rủ Ksor S tham gia thì Ksor S đồng ý. Đến khoảng 15 giờ 30 phút, S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu FERROLI không có biển kiểm soát chở T đến lô cao su thuộc Đội 10, Công ty G1 ở làng L, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Sức nổ máy xe chờ sẵn cách vị trí người thu mua hạt điều là bà Đỗ Thị H khoảng 05m, còn T trực tiếp mang hạt điều bán cho bà H được 105.000 đồng, bán xong T giả vờ đi ra phía sau xin nước uống rồi giất túi đựng tiền của bà H để trên bao điều cạnh bà H rồi chạy ra chỗ S đang chờ sẵn ngồi lên xe cả hai cùng bỏ chạy. S và T chạy được khoảng 50m thì xe bị hỏng nên bỏ xe lại chạy bộ vào vườn cà phê bỏ trốn. Sau đó, T và S cùng nhau đếm số tiền đã giật được của bà H và đếm được tổng cộng số tiền là 3.100.000 đồng rồi chia nhau tiêu xài hết. Bà H đuổi theo thấy chiếc xe mô tô bị bỏ lại nên đã mang xe đến giao nộp cho Công an xã I và trình báo sự việc. Đến ngày 03/5/2024, bị cáo Siu T đến Công an huyện I đầu thú.

Tại Bản cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 29/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai truy tố bị cáo Siu T về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Siu T mức án từ 18 - 24 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu FERROLI không có biển kiểm soát, số máy P52FMH058577, số khung HIUMAXN58577, đã qua sử dụng là tài sản của bà Ksor P1, khi đi làm rẫy bà Ksor P1 không biết việc Ksor S tự ý sử dụng chiếc xe này vào việc cùng bị cáo Siu T thực hiện hành vi “Cướp tài sản” nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Ksor P1 là phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình Ksor S đã trả lại cho bị hại là bà Đỗ Thị H số tiền bị chiếm đoạt là 3.000.000 đồng, bà H đã nhận tiền và không yêu cầu bị cáo Siu T tiếp tục trả lại số tiền 100.000 đồng và anh Ksor S cũng không yêu cầu bị cáo Siu T hoàn trả phần tiền đã bồi thường nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Người bào chữa cho bị cáo Siu T khẳng định Viện kiểm sát truy tố bị cáo Siu T về các tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, không được đi học nên nhận thức về xã hội có phần hạn chế, thuộc hộ nghèo, trước khi phạm tội có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, hành vi giản đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đề nghị xử phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt.

Bị cáo nói lời nói sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

  1. Tại phiên tòa, bị cáo Siu T công nhận, Khoảng 15 giờ ngày 22/4/2024, bị cáo rủ Ksor S sau khi nhặt điều bán sẽ cướp giật tiền của người thu mua hạt điều thì Ksor S đồng ý. Đến khoảng 15 giờ 30 phút, T trực tiếp mang hạt điều bán cho bà H được 105.000 đồng, bán xong T giả vờ đi ra phía sau xin nước uống rồi giất túi đựng tiền của bà H để trên bao điều cạnh bà H rồi chạy ra chỗ S đang chờ sẵn ngồi lên xe cả hai cùng bỏ chạy. S và T chạy được khoảng 50m thì xe bị hỏng nên bỏ xe lại chạy bộ vào vườn cà phê bỏ trốn. T và S cùng nhau đếm số tiền đã giật được của bà H và đếm được tổng cộng số tiền là 3.100.000 đồng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã nêu.

  2. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và bị hại, phù hợp với các chứng cứ tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Siu T đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

  3. Trong quá trình Điều tra, truy tố, xét xử, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đúng quy định của pháp luật.

  4. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm một cách bất hợp pháp đến tài sản của người khác và trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an xã hội.

  5. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Siu T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Siu T là người đủ 18 tuổi, bị cáo chơi cùng với Ksor S và có nói với Ksor S về việc đi giật tiền của người thu mua điều thì Ksor S đồng ý ngay, không có hành vi khác để kích động, dụ dỗ, thúc đẩy nhằm “xúi giục” bị Ksor S tham gia cùng với bị cáo và khi được bị cáo Siu T nói thì Ksor S tự nguyện đồng ý nên Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

  6. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Siu T có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo là người dân tộc thiểu số, không được đi học nên nhận thức về xã hội có phần hạn chế, thuộc hộ nghèo, trước khi phạm tội có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử quyết định giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội đã thực sự ăn năn hối cải.

  7. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu FERROLI không có biển kiểm soát, số máy P52FMH058577, số khung HIUMAXN58577, đã qua sử dụng là tài sản của bà Ksor P1, khi đi làm rẫy bà Ksor P1 không biết việc Ksor S tự ý sử dụng chiếc xe này vào việc cùng bị cáo Siu T thực hiện hành vi “Cướp tài sản” nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Ksor P1 là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

  8. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình Ksor S đã trả lại cho bị hại là bà Đỗ Thị H số tiền chiếm đoạt là 3.000.000 đồng, bà H đã nhận tiền và không yêu cầu bị cáo Siu T tiếp tục trả lại số tiền 100.000 đồng và anh Ksor S cũng không yêu cầu bị cáo Siu T hoàn trả phần tiền đã bồi thường nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

  9. Đối với Ksor Sức, khi thực hiện hành vi “Cướp giật tài sản” mới 15 tuổi 05 tháng 12 ngày, thuộc trường hợp chưa đủ tuổi chịu trách hiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự nên Cơ quan Công an đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.

  10. Về án phí: Bị cáo là người thuộc hộ nghèo, có đơn xin miễn án phí nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí lệ, phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Siu T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Siu T 15 ( mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 03/5/2024).
  • - Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Siu T để bảo đảm thi hành án.
  • - Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí lệ, phí Tòa án,

Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Siu T phải nộp là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/9/2024), người vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Ia Grai;
  • - Công an huyện Ia Grai;
  • - TAND, VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - Bị cáo; Người bào chữa;
  • - Người có QLNVLQ đến vụ án;
  • - UBND xã Ia Chia;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - Lưu HSVA;
  • - Lưu THAHS, THADS;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Văn Đính

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI về cướp giật tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 34/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tiền
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger