Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BA TRI

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HS-ST

Ngày: 04-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lưu Văn Hiếu.

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Hữu Lộc - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Ba Tri.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Thạo - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST – HS ngày 12 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Đỗ Vinh H, sinh ngày 29/4/1995; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Số A, khu phố A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Vinh Q và bà Trần Thị Thu T; Vợ, con chưa có; Có 01 người em sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/4/2024 cho đến nay tại thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre. Bị cáo có mặt tại tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Trần Thị Thu T, sinh năm 1972; (Có mặt).
  2. Địa chỉ: Số A, khu phố A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre.

  3. Nguyễn Dương Khắc H1, sinh năm 1997; (Vắng mặt).
  4. Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.

- Người làm chứng: Nguyễn Anh T1, sinh năm 1999; (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố D, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.

- Người chứng kiến:

  1. Trịnh Văn T2, sinh năm 1976; (Vắng mặt).
  2. Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre.

  3. Võ Văn H2, sinh năm 1972; (Vắng mặt).
  4. Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Vinh H, ngụ khu phố A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre là đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý. Vào khoảng 19 giờ ngày 07/02/2024, Đỗ Vinh H điều khiển xe môtô biển số 71C1-300.64 (xe của mẹ ruột H là bà Trần Thị Thu T) đến nhà của Nguyễn Dương Khắc H1, ngụ ấp T, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre chơi. Khi đến nơi Đỗ Vinh H gặp Nguyễn Dương Khắc H1 cùng với bạn của Khắc H1 là Nguyễn Anh T1, ngụ Tổ dân phố D, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk rồi cả ba tổ chức uống rượu. Theo lời Đỗ Vinh H khai nhận thì cả ba uống rượu được khoảng 01 giờ thì Đỗ Vinh H thấy Nguyễn Dương Khắc H1 đi vào trong phòng ngủ nên H1 liền đi theo vào phòng và hỏi mua 300.000 đồng ma tuý thì Khắc H1 đồng ý. Nguyễn Dương Khắc H1 lấy ma tuý được đựng trong 01 đoạn ống nhựa màu vàng được hàn kín 02 đầu đưa cho Đỗ Vinh H rồi Đỗ Vinh H trả tiền cho Nguyễn Dương Khắc H1. Sau khi nhận ma tuý, Đỗ Vinh H bỏ đoạn ống nhựa chứa ma tuý vào bao thuốc lá hiệu SCOTT rồi để bao thuốc lá vào túi quần trước bên phải đang mặc và ra ngoài tiếp tục uống rượu với Nguyễn Anh T1 còn Nguyễn Dương Khắc H1 thì đi ra sau. Đến khoảng 21 giờ thì Nguyễn Dương Khắc H1 nghỉ uống rượu và điều khiển xe môtô ra khỏi nhà còn H1 và Nguyễn Anh T1 ngồi tại bàn tiếp tục uống rượu và bấm điện thoại chơi. Một lúc sau thì Đỗ Vinh H nghe Nguyễn Anh T1 nói với mình là “Nguyễn Dương Khắc H1 nhờ chở Anh T1 và mang theo 01 con gà trống đá vào trong thị trấn B đưa cho Khắc H1”. Đỗ Vinh H nghe vậy nên điều khiển xe môtô biển số 71C1-300.64 chở Nguyễn Anh T1 ngồi sau mang theo 01 túi đệm đựng gà đi vào thị trấn B gặp Nguyễn Dương Khắc H1. Khi Đỗ Vinh H điều khiển xe môtô đến khu vực ngã ba thuộc ấp V, xã V, huyện B thì thấy có nhiều Công an xã V đang đứng kiểm tra, do trong người đang có ma tuý sợ bị phát hiện nên H không rẽ trái đi về thị trấn B mà rẽ phải đi về hướng xã P. Đỗ Vinh H vừa rẽ phải thì bị xe môtô của Công an xã V đuổi theo yêu cầu dừng xe kiểm tra, Đỗ Vinh H dừng xe mô tô lại và dùng tay trái lấy bao thuốc lá hiệu SCOTT bên trong có chứa ma tuý ném xuống lề đường thì bị lực lượng Công an xã V phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ khi khám nghiệm hiện trường gồm:

  • - 01 ống nhựa màu vàng được hàn kín 02 đầu bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma tuý có kích thước 03cm x 01cm được niêm phong trong phong bì ký hiệu T01, chưa xử lý;
  • - 01 vỏ bao thuốc lá hiệu SCOTT có kích thước 2,3cm x 06cm x 09cm bên trong có chứa 08 điếu thuốc lá được niêm phong trong phong bì ký hiệu T02, chưa xử lý;
  • - 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển kiểm soát 71C1-300.64 số máy HC12E7296410, số khung RLHHC1252FY296433, Cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu là bà Trần Thị Thu T.

Tại Bản kết luận giám định số 111/2024/KL-KTHS ngày 18/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 đoạn ống bằng nhựa màu vàng được niêm phong trong phong bì ký hiệu T01 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,3315 gam. H3 lại đối tượng giám định: Hoàn lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Bến Tre mẫu vật ký hiệu T01 sau giám định đã được niêm phong lại có khối lượng 0,2166 gam.

Tại Bản Cáo trạng số 27/CT-VKSBT ngày 23/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri truy tố bị cáo Đỗ Vinh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Đỗ Vinh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị:

  • - Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự đề nghị:
    • + Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy sau giám định có khối lượng 0,2166 gam và vỏ bao gói chứa ma túy được niêm phong trong phong bì số 111/2024 được niêm phong bằng chữ kí tên và viết họ tên của Huỳnh Văn M, Trần Thanh P, Đỗ Vinh H, Nguyễn Ngọc M1 và Phan Trung T3 đồng thời có đóng dấu hình tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B là vật cấm tàng trữ lưu hành; 01 phong bì ký hiệu T02 được niêm phong bằng chữ ký tên và viết họ tên của Trần Minh T4, Trương Văn C, Đỗ Vinh H, Trịnh Văn T2 và đóng dấu hình tròn màu đỏ của Công an xã V bên trong có chứa 01 vỏ bao thuốc lá dùng để chứa ma tuý và 08 điếu thuốc lá nhãn hiệu SCOTT là vật cấm lưu hành.
    • + Ghi nhận việc Cơ quan điều tra đã trao trả 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển kiểm soát 71C1-300.64 số máy HC12E7296410, số khung RLHHC1252FY296433 cho bà Trần Thị Thu T do xe thuộc sở hữu của bà T và không liên quan đến việc phạm tội.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Vinh H đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng như Cáo trạng đã xác định. Bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về việc mua ma túy của Nguyễn Dương Khắc H1 thì chỉ có bị cáo và Khắc H1 biết, ngoài ra không ai biết sự việc này. Bị cáo cũng không nói cho Nguyễn Anh T1 biết việc bị cáo cất giấu ma túy trong người.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Thu T trình bày không biết việc H1 mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển kiểm soát 71C1-300.64 để mua và tàng trữ ma túy. Hiện bà T đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì thêm.

Quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Dương Khắc H1 không thừa nhận việc có bán ma túy cho Đỗ Vinh H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Dương Khác H4, người làm chứng Nguyễn Anh T1, người chứng kiến Trịnh Văn T2, Võ Văn H2 vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, những người ngày đã có lời khai rõ trong quá trình điều tra vụ án. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì vậy, căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên trong vụ án.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Tại phiên tòa, lời khai nhận của bị cáo Đỗ Vinh H là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến, vật chứng là ma túy đã thu giữ trong quá trình bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Đã đủ cơ sở xác định: Do nghiện ma túy, nên Đỗ Vinh H đã có hành vi mua và cất giữ trái phép 0,3315 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang vào khoảng 23 giờ 10 phút ngày 07/02/2024 tại khu vực ấp V, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo Đỗ Vinh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Khi thực hiện hành vi, bị cáo là người đã trưởng thành và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp và cố ý thực hiện. Năm 2022, bị cáo từng bị Công an xã an Hiệp xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đã được xóa tiền sự) nhưng bị cáo vẫn không từ bỏ hẳn ma túy mà tiếp tục có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và với tính chất hành vi của bị cáo, HĐXX xét thấy cần xử lý bị cáo bằng hình phạt tù giam để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo nhằm giúp bị cáo từ bỏ chất ma túy để trở thành người tốt, có ích cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, phòng ngừa chung trước thực trạng tệ nạn ma túy đang ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp trên địa bàn huyện nhà.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. HĐXX sẽ xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Vì vậy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • + Đối với Số ma túy sau giám định có khối lượng 0,2166 gam và vỏ bao gói chứa ma túy được niêm phong trong phong bì số 111/2024 và 01 vỏ bao thuốc lá dùng để chứa ma túy và 08 điếu thuốc lá nhãn hiệu SCOTT được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu T02, do số vật chứng này là vật cấm lưu hành nên sẽ bị tịch thu tiêu hủy.
  • + Cơ quan điều tra đã trao trả 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển kiểm soát 71C1-300.64 cho chủ sở hữu bà Trần Thị Thu T do không liên quan đến việc phạm tội là phù hợp với quy định pháp luật nên được HĐXX ghi nhận.

[8] Đối với Nguyễn Dương Khắc H1, theo lời bị cáo Đỗ Vinh H thì Khắc H1 là người bán trái phép ma túy cho bị cáo H1 nhưng Nguyễn Dương Khắc H1 không thừa nhận và ngoài lời khai của bị cáo H1 thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên việc cơ quan điều tra xác định không có cơ sở xử lý đối với Nguyễn Dương Khắc H1 là phù hợp với quy định pháp luật.

[9] Đối với Nguyễn Anh T1 đi chung xe môtô biển số 71C1-300.64 với Đỗ Vinh H khi bị bắt quả tang nhưng do T1 không biết việc Đỗ Vinh H tàng trữ trái phép chất ma tuý và không có chứng cứ chứng minh nên cơ quan điều tra xác định Nguyễn Anh T1 không đồng phạm với Đỗ Vinh H trong vụ án là phù hợp với quy định pháp luật.

[10] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Đỗ Vinh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Vinh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt bị cáo Đỗ Vinh H 01 (một) năm tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy sau giám định có khối lượng 0,2166 gam và vỏ bao gói chứa ma túy được niêm phong trong phong bì số 111/2014, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu SCOTT bên trong có 08 điếu thuốc được niêm phong trong phong bì kí hiệu T02 (Theo phiếu nhập kho số NKTV30 ngày 04/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri).

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14;

    Buộc bị cáo Đỗ Vinh H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt theo quy định pháp luật.

* Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND huyện Ba Tri;
  • - CQCSĐT Công an huyện Ba Tri;
  • - Chi cục THADS huyện Ba Tri;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre;
  • - UBND TT. T (B - Bến Tre);
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Thị Huyền Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 34/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đỗ Vinh H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy và bị xử phạt 01 năm tù.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger