Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

Bản án số:34/2024/HS-PT

Ngày: 19/3/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn

Các thẩm phán Ông Võ Đình Phương

Bà Võ Thị Trầm

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Xuân Quý - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Ánh Dương- Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 03 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2024/TLPT-HS ngày 23 tháng 01 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Trần Trúc S, sinh ngày 20 tháng 09 năm 2003, tại thành phố N; nơi cư trú: tổ A N, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; con ông Trần Văn S1 (sinh năm 1967) và bà Đặng Kiều Trúc N (sinh năm 1977); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

  2. Lý Thành Đ, sinh ngày 05 tháng 02 năm 2003 tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số E, tổ C Đ, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở hiện nay: Số B, tổ C Đ, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; con ông Lý Thiện T (sinh năm 1964) và bà Trịnh Thị T1 (sinh năm 1970); tiền án: không; tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 150/QĐ- XPHC ngày 10/12/2020 của Công an thành phố N, xử phạt 100.000 đồng về hành vi “Gây mất trật tự công cộng”; hiện bị cáo đang bị bắt tạm giam trong một vụ án khác; có mặt tại phiên tòa.

  3. Trần Hoàng M (N1), sinh ngày 12 tháng 11 năm 2005, nơi sinh: Khánh Hòa; Nơi đăng ký thường trú: Số E Đ, phường V Tp ., tỉnh Khánh Hòa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Sinh viên trường Cao đẳng D1; trình độ văn hóa: 10/12; con ông Trần Võ K (sinh năm 1979) và bà Huỳnh Thị Cẩm L (sinh năm 1977); tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

  4. Lý Công D, sinh ngày 20 tháng 9 năm 2004 tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số E, tổ C Đ, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở hiện nay: Số B, tổ C Đ, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; con ông Lý Thiện T (sinh năm 1964) và bà Trịnh Thị T1 (sinh năm 1970); tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

  5. Lê Thành K1, sinh ngày 13 tháng 7 năm 2004 tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa: nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A Đường Đ, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở hiện nay: Số A đường B tháng D, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Sinh viên trường Cao đẳng D1; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Lê Thành Q (sinh năm 1973) và bà Trần Thị Ngọc B (sinh năm 1977); tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

  6. Huỳnh Quang H, sinh ngày 15 tháng 5 năm 2004 tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A H, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở hiện nay: Số G N, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Sinh viên trường Đại học D1; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Huỳnh Quang H1 (sinh năm 1971) và bà Bùi Thị H2 (sinh năm 1973); tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

  7. Nguyễn Hoàng Q1, sinh ngày 08 tháng 8 năm 2004 tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở hiện nay: Số A N, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; con ông Nguyễn Hoàng V (sinh năm 1974) và bà Nguyễn Minh Trúc L1 (sinh năm 1973); tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Đang bị khởi tố, điều tra về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự theo Quyết định khởi tố bị can số 317 ngày 10/6/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho các bị cáo Huỳnh Quang H, Nguyễn Hoàng Q1, Lê Thành K1, Trần Trúc S: Luật sư Trần Thị H3, Công ty L2 - Chi nhánh K2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh K. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Kiều Trúc N có nợ bà Thái Thị Cẩm V1 số tiền 2.500.000 đồng nhưng không trả nên con đẻ của bà V1 là Võ Thái Cẩm M1 có đăng hình ảnh bà N lên mạng xã hội Facebook để đòi nợ.

Đến khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 19/11/2021, Trần Trúc S (con ruột bà N) và Nguyễn Công T2 (con rể bà N) đến nhà của Võ Thái Cẩm M1 tại Tổ A N, phường N, thành phố N để nói chuyện. Khi đến nơi, Nguyễn Công T2 cầm 01 cái ghế nhựa màu đỏ đập 01 cái vào đầu của M1 rồi tiếp tục dùng tay tát 01 cái vào mặt của M1. Trần Trúc S cầm 01 cây mác lao vào định đánh M1 nhưng bị cha của M1 là ông Võ Đắc T3 can ngăn, kéo T2S ra ngoài. Ông T3 nói T2S cứ về nhà, có gì để ông T3 nói M1 gỡ bài viết xuống, sau đó ST2 ra ngoài đứng đợi khoảng 5 phút thì T2 chở S về nhà.

Sau khi xảy ra sự việc, M1 có kể lại sự việc cho Nguyễn Đức P là bạn trai của M1 nghe. P liền gọi cho S để hỏi rõ sự việc thì hai bên xảy ra cãi vã và thách thức đánh nhau. Sau đó, S gọi điện thoại bằng ứng dụng Messenger cho Lý Thành Đ, Trần Hoàng M để rủ đi đánh nhau với P thì ĐM đồng ý.

Đến khoảng 20 giờ ngày 19/11/2021, Trần Trúc S điều khiển xe máy hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 79N2 - 487.14 sang đón Đ đi đánh nhau thì gặp Ngô Quốc T4 nên S tiếp tục rủ T4 đi đánh nhau thì T4 đồng ý. Sau đó, S tiếp tục gọi điện thoại rủ Nguyễn Cao Đoàn T5 đi đánh nhau giúp S thì T5 đồng ý. Lúc này, T5 đang ngồi nhậu tại nhà bạn T5Trần Văn T6 nên đã rủ T6 đi củng. Cả nhóm hẹn gặp tại quán C sau lưng khách sạn M2 Triều đường T, thành phố N. Tại đây, Trần Trúc S gặp: Trần Hoàng M, Võ Văn Trung T7(sinh ngày 21/12/2005), Lê Thành K1, Lý Công D, Lý Thành Đ, Huỳnh Quang H, Nguyễn Hoàng Q1, Ngô Quốc T4, Nguyễn Cao Đoàn T5, Nguyễn Trọng T8 nên đã rủ cả nhóm đi đánh nhau giúp S thì mọi người đồng ý, riêng Nguyễn Trọng T8 không đồng ý và ngồi lại quán cà phê. Cả nhóm chạy vào đoạn đường N, phường V, thành phố N thì S nói cả nhóm đứng chờ để S chạy lên bãi đất trống trên núi gần đó lấy hung khí chia cho cả nhóm để chuẩn bị đi đánh nhau. Khoảng 05 phút sau, S quay lại mang theo một bao hung khí gồm: 01 cây mác, 02 cây đao đầu bằng, 02 cây đao tự chế đưa cho mọi người.

Sau khi lấy hung khí thì cả nhóm lên 03 xe máy, mỗi xe chở 3 người cầm theo hung khí, đi dàn hàng ngang, la hét từ đường N đến nhà của Võ Thái Cẩm M1 tại Tổ A N, phường N, thành phố N để đánh PM1, cụ thể:

  • - Ngô Quốc T4 điều khiển xe máy hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 79N2 - 256.17 chở Lý Thành Đ ngồi giữa cầm 01 cây đao, Trần Trúc S cầm mác ngồi sau cùng.

  • - Huỳnh Quang H4 điều khiển xe máy hiệu Honda Vario biển kiểm soát 79N2 - 871.92 chở Võ Văn Trung T7, Nguyễn Hoàng Q1 cầm theo 01 cây đao.

  • - Trần Hoàng M điều khiển xe máy hiệu Airblade biển kiểm soát 79N1 - 866.02 chở Lê Thành K1Lý Công D ngồi sau, mỗi người cầm theo 01 cây đạo tự chế.

Khi đến nhà M1 tại Tổ A N, phường N, thành phố N, S dùng cây mác chém 02 cái vào cửa nhà M1, K1M dùng chân đạp vào cửa sắt gây ra nhiều tiếng động lớn. Sau đó, nhóm của S chửi bới, thách thức những người trong nhà M1 để đánh nhau, gây náo loạn, mất trật tự cả khu dân cư. Khi nhóm của S không gặp được M1P để đánh, S gọi điện thoại cho P hẹn nhau lên bãi đậu xe của Suối khoáng nóng thuộc phường N, thành phố N để đánh nhau, P đồng ý nên nhóm của S tiếp tục cầm hung khí chở nhau lên bãi đậu xe. Khi đến bãi đậu xe trên thì Nguyễn Cao Đoàn T5 và bạn của T5Trần Văn T6 đã đứng chờ sẵn, T5 nói S đưa cho T6 01 cây đao, còn T5 cầm 02 cục đá để đợi nhóm P đến đánh nhau, khi cả nhóm S đang đứng đợi P thì bị lực lượng công an phát hiện nên cả nhóm bỏ chạy.

Ngày 21/11/2021, Ủy ban nhân dân phường N, thành phố N có Công văn số 1724/UBND về việc “hỗ trợ công tác đảm bảo an ninh trên địa bàn phường” phản án vụ việc nêu trên gây ồn ào, náo loạn, làm mất trật tự an ninh tại địa phương và đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố N xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật để giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn.

Tại bản cáo trạng số 166/CT-VKS-NT ngày 12/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố các bị cáo Trần Trúc S, Lý Thành Đ, Trần Hoàng M, Lý Công D, Lê Thành K1, Ngô Quốc T4, Huỳnh Quang HNguyễn Hoàng Q1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

Đối với thương tích của Võ Thái Cẩm M1: sau khi bị Nguyễn Công T2 dùng ghế đánh vào đầu, vì vết thương nhẹ, chỉ bị xước da, không bị thương tích gì nên M1 đã không đi đến cơ sở y tế để khám chữa bệnh. Đồng thời sau khi xảy ra sự việc, phía gia đình của Trần Trúc S đã xin lỗi và bồi thường cho M1 số tiền là 2.500.000 đồng, Võ Thái Cẩm M1 đã có đơn từ chối giám định thương tích và không yêu khởi tố vụ án hình sự nên không đủ căn cứ để xử lý hình sự về thương tích” đối với Nguyễn Công T2.

Đối với Võ Văn Trung T7 - SN: 21/12/2005, chưa đủ 16 tuổi nên hành vi không cấu thành tội phạm.

Đối với hành vi của Nguyễn Cao Đoàn T5Trần Văn T6 đồng ý tham gia đánh nhau cùng với Trần Trúc S. Tuy nhiên, không cùng nhóm Trần Trúc S đến khu vực dân cư tại nhà của Võ Thái Cẩm M1, không có hành vi la hét, phá phách tại khu vực này nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 287/2023/HS-ST ngày 24 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa quyết định:

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt Trần Trúc S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng"; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Xử phạt Lý Thành Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt Nguyễn Hoàng Q1 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Xử phạt Trần Hoàng M (Nô) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng"; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Xử phạt Lý Công D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Xử phạt Lê Thành K1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Xử phạt Huỳnh Quang H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt Ngô Quốc T4 02 (Hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng" nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về trách nhiệm dân sự, vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 30/10/2023 và 02/11/2023 các bị cáo Lý Công D, Nguyễn Hoàng Q1, Trần Hoàng M, Lê Thành K1, Trần Trúc S, Huỳnh Quang H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.

Ngày 21/10/2023 bị cáo Lý Thành Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa:

- Đối với các bị cáo Lý Công D, Lý Thành Đ: Sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo có nộp tài liệu thể hiện gia đình có công cách mạng, có ông, bà nội được tặng nhiều Huân, Huy chương kháng chiến. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, đề nghị đồng xét xử chấp nhận kháng cáo Lý Công D, Lý Thành Đ giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt.

Đối với các bị cáo: Trần Trúc S, Trần Hoàng M, Lê Thành K1, Huỳnh Quang HNguyễn Hoàng Q1, sau khi xét xử sơ thẩm không phát sinh tình tiết giảm nhẹ mới. Bị cáo Trần Trúc S đã rủ rê các bị cáo khác là người dưới 18 tuổi phạm tội nhưng cấp sơ thẩm không áp tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự là thiếu sót. Tuy nhiên, mức hình phạt đã xét xử đối với bị cáo S đã phù hợp với hành vi, nhân thân của bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với các bị cáo Trần Trúc S, Trần Hoàng M, Lê Thành K1, Huỳnh Quang HNguyễn Hoàng Q1.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Quang H, Nguyễn Hoàng Q1, Lê Thành K1, Trần Trúc S.

Đối với bị cáo Trần Trúc S, Nguyễn Hoàng Q1: Bị cáo S phạm tội là vì bị kích động về tinh thần do mẹ mình bị bêu xấu trên mạng xã hội, bị cáo Q1 khi phạm tội là người chưa thành niên, các bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt.

Đối với các bị cáo Lê Thành K1, Huỳnh Quang H: Các bị cáo phạm tội do bị các bị cáo khác rủ rê, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khi phạm tội là người chưa thành niên, có nhân thân tốt, hiện tại là Sinh viên đang theo học tại Trường Cao đẳng D1, Trường Đại học D1. Vai trò cyar các bị cáo trong vụ án hạn chế, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo để các bị cáo tiếp tục đi học.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của các bị cáo Trần Trúc S, Lý Thành Đ, Trần Hoàng M, Lý Công D, Lê Thành K1, Huỳnh Quang HNguyễn Hoàng Q1 còn trong thời hạn luật định nên hợp lệ. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Trần Trúc S, Lý Thành Đ, Trần Hoàng M, Lý Công D, Lê Thành K1, Huỳnh Quang HNguyễn Hoàng Q1 đã khai nhận toàn bộ hành vi bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các tài liệu, chứng cứ đã được các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm thu thập. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét nội dung kháng cáo:

3.1. Xét kháng cáo của các bị cáo Trần Trúc S, Nguyễn Hoàng Q1.Bị cáo Trần Trúc S có vai trò khởi xướng, là người trực tiếp chuẩn bị hung khí, bàn bạc và rủ rê các bị cáo khác. Bị cáo cũng là đối tượng thực hiện hành vi một cách quyết liệt nhất. Bị cáo Nguyễn Hoàng Q1 cùng tham gia gây rối trật tự công cộng, hiện tại bị cáo đã bị khởi tố và điều tra trong vụ án khác cũng về hành vi “ Gây rối trật công cộng”, thể hiện sự coi thường pháp luật. Xét thấy mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng là đã tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, quá trình tranh tụng tại cấp phúc thẩm không phát sinh tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Trúc S, Nguyễn Hoàng Q1.

3.2. Xét kháng cáo của các bị cáo Lý Thành Đ, Lý Công D: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trật tự địa phương. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, khi phạm tội bị cáo Lý Công D là người dưới 18 tuổi. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo có nộp tài liệu thể hiện gia đình có công cách mạng, có ông, bà nội được tặng nhiều Huân, Huy chương kháng chiến hạng ba. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

3.3. Xét kháng cáo của các bị cáo Lê Thành K1, Huỳnh Quang HTrần Hoàng M;

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trật tự địa phương. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, khi phạm tội các bị cáo là người dưới 18 tuổi, có Giấy xác nhận các bị cáo hiện tại là sinh viên đang theo học tại Trường Cao đẳng D1, Trường Đại học D1, các bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự nhưng cấp sơ thẩm bắt bị cáo phải cách ly xã hội để chấp hành hình phạt tù là không cần thiết. Hiện tại, các bị cáo đều đang đi học. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, để các bị cáo có cơ hội tiếp tục đi học.

[4] Bị cáo Trần Trúc S đã rủ rê các bị cáo khác là người dưới 18 tuổi phạm tội, nhưng cấp sơ thẩm không áp tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự là thiếu sót. Tuy nhiên, xét thấy mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo Trần Trúc S đã phù hợp với vai trò, hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Do đó, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm đối với thiếu sót trên.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí: Các bị cáo Trần Trúc S, Nguyễn Hoàng Q1 không được chấp nhận kháng cáo nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định. Các bị cáo Lê Thành K1, Huỳnh Quang H, Trần Hoàng M, Lý Thành Đ, Lý Công D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

    Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Trúc S, Nguyễn Hoàng Q1.

    - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Trúc S,

    Xử phạt Trần Trúc S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng"; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

    - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Q1,

    Xử phạt Nguyễn Hoàng Q1 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

  2. Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

    Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Lý Thành Đ, Lý Công D, sửa bản án sơ thẩm.

    - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lý Thành Đ,

    Xử phạt Lý Thành Đ 02 (hai) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

    - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lý Công D,

    Xử phạt Lý Công D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

  3. Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355, điểm c, e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

    Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo cáo Lê Thành K1, Huỳnh Quang HTrần Hoàng M sửa bản án sơ thẩm.

    Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 101, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Xử phạt bị cáo Lê Thành K1 01 (Một) năm 06 (S2) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 19 tháng 3 năm 2024);

    Giao bị cáo Lê Thành K1 cho Ủy ban nhân dân phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

    Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 101, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Xử phạt bị cáo Trần Hoàng M 01 (Một) năm 06 (S2) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 19 tháng 3 năm 2024);

    Giao bị cáo Trần Hoàng M cho Ủy ban nhân dân phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

    Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 101, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Xử phạt bị cáo Huỳnh Quang H 01 (Một) năm 06 (S2) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 19 tháng 3 năm 2024);

    Giao bị cáo Huỳnh Quang H cho Ủy ban nhân dân phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo là các bị cáo Lê Thành K1, Huỳnh Quang HTrần Hoàng M cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự 2015.

    Trong trường hợp các bị cáo Lê Thành K1, Huỳnh Quang HTrần Hoàng M thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo Trần Trúc S, Nguyễn Hoàng Q1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các bị cáo Lý Thành Đ, Lý Công D Lê Thành K1, Huỳnh Quang HTrần Hoàng M không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT1 -TAND Tối cao TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
  • - TAND Cấp cao tại Đà Nãng;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - Công an tỉnh Khánh Hòa.
  • - TAND TP. Nha Trang;
  • - VKSND TP. Nha Trang;
  • - Công an TP. Nha Trang;
  • - Chi cục THADS TP. Nha Trang;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ; Án văn; Văn phòng

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HS-PT ngày 19/03/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự về tội "gây rối trật tự công cộng"

  • Số bản án: 34/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội "Gây rối trật tự công cộng"
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: các bị cáo Lý Công D, Nguyễn Hoàng Q1, Trần Hoàng M, Lê Thành K1, Trần Trúc S, Huỳnh Quang H, Lý Thành Đ có kháng cáo đối với ản án hình sự sơ thẩm số 287/2023/HS-ST ngày 24 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger