|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 10 – 6 – 2024
V/v Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Cao Thị Diệu Hiền
- Ông Nguyễn Văn Minh
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Kim Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, Đồng Tháp.
Trong ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 88/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Ngọc Q, sinh năm 1990
Địa chỉ: Số A, V, Phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn: Anh Huỳnh Thanh N, sinh năm 1989
Địa chỉ: Số A, H, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp
Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt
NHẬN THẤY:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Bùi Thị Ngọc Q trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Bùi Thị Ngọc Q và anh Huỳnh Thanh N chung sống với nhau vào năm 2008. Trước khi đi đến hôn nhân hai bên có tìm hiểu khoảng 01 năm, vì hoàn cảnh gia đình nên không có tổ chức cưới. Có đăng ký kết hôn ngày 22/04/2009 tại Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
- Sau khi kết hôn chị Q và anh N sinh sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2013 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường xuyên gây gổ nên vợ chồng sống ly thân. Tuy nhiên, sau đó để cho các con có đầy đủ tình yêu thương của cha mẹ nên vợ chồng hàn gắn trở lại sống chung. Vợ chồng hàn gắn chung sống được một thời gian thì tiếp tục có mâu thuẫn. Năm 2018 anh N về S, sinh sống và làm việc cho đến nay. Từ đó, vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau.
- Nay chị Q nhận thấy tình cảm không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay, nên chị Q yêu cầu ly hôn anh N.
- - Về con chung: Chị Q và anh N có 02 con chung tên Huỳnh Thị Thùy L sinh ngày 17/3/2009 (đang sống với chị Q); Huỳnh Thị Thùy D sinh ngày 22/10/2012 (đang sống với anh N). Khi ly hôn chị Q yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi cháu L. Chị Q không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Chị Q đồng ý để anh N được quyền trực tiếp nuôi cháu D, chị Q không cấp dưỡng nuôi cháu D.
- - Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu giải quyết;
* Quá trình tham gia tố tụng bị đơn anh Huỳnh Thanh N trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Anh N và chị Q chung sống với nhau vào năm 2008, không có tổ chức cưới nhưng có đăng ký kết hôn vào ngày 22/04/2009 tại Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
- Sau khi kết hôn chị Q và anh N sinh sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2013 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên thường xuyên gây gỗ. Nhưng vì các con còn nhỏ nên vợ chồng cố gắng hòa giải để cho con cái có đầy đủ tình thương của cha mẹ. Đến năm 2018 mâu thuẫn trầm trọng không thể sống chung với nhau nên anh N đã về S ở đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn, anh N đồng ý ly hôn chị Q
- - Về con chung: Anh N thống nhất có 02 con chung tên Huỳnh Thị Thùy L sinh ngày 17/3/2009 (đang sống với chị Q) và Huỳnh Thị Thùy D sinh ngày 22/10/2012 (đang sống với anh N). Khi ly hôn anh N yêu cầu nuôi cháu D, không yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con; Anh N đồng ý để chị Q nuôi cháu L, anh N không cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết;
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Trên cơ sở Đơn khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về ly hôn. Bị đơn anh Huỳnh Thanh N cư trú tại thành phố S nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về thủ tục tố tụng: Chị Bùi Thị Ngọc Q và anh Huỳnh Thanh N có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
- Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Xét việc chị Q yêu cầu ly hôn anh N, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về nuôi con chung: Chị Q và anh N có hai con chung tên Huỳnh Thị Thùy L sinh ngày 17/3/2009 (đang sống với chị Q) và Huỳnh Thị Thùy D, sinh ngày 22/10/2012 (đang sống với anh N).
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Q và anh N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị Q và anh N xác định không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Q nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) theo quy định của pháp luật.
Chị Q và anh N sống vợ chồng vào năm 2008, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 22/4/2009 tại Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Tuy nhiên, trong quá trình chung sống giữa chị Q và anh N đã phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thiếu sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Từ đó, làm cho tình cảm ngày càng bị tổn thương, rạn nứt không thể hàn gắn, từ năm 2018 đến nay chị Q và anh N đã sống ly thân. Nay chị Q và anh N đều xác định tình cảm không còn, hai bên không thể hàn gắn trở lại chung sống với nhau. Chị Q yêu cầu ly hôn, anh N cũng đồng ý. Điều đó cho thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Q, cho chị Q và anh N ly hôn.
Khi ly hôn, chị Q và anh N thống nhất thỏa thuận: Chị Q được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu L; Anh N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu D. Xét thấy, sự thỏa thuận về việc nuôi con chung sau ly hôn giữa chị Q và anh N là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình cũng như nguyện vọng của cháu L, cháu D nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Chị Q và anh N có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc con, không ai có quyền cản trở.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ các Điều 28, Điều 30, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- - Các Điều: 55, 56, 58, 71, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.
Xử :
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị Ngọc Q. Chị Bùi Thị Ngọc Q và anh Huỳnh Thanh N ly hôn
- Về nuôi con chung:
- - Chị Bùi Thị Ngọc Q được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Thị Thùy L sinh ngày 17/3/2009 (đang sống với chị Q).
- - Anh Huỳnh Thanh N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Thị Thùy D sinh ngày 22/10/2012 (đang sống với anh N).
- - Chị Bùi Thị Ngọc Q và anh Huỳnh Thanh N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
- - Chị Bùi Thị Ngọc Q và anh Huỳnh Thanh N có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc con, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Bùi Thị Ngọc Q và anh Huỳnh Thanh N trình bày không có, nên không xem xét.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Chị Bùi Thị Ngọc Q nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí chị Q đã nộp ngày 17/4/2024 theo biên lai thu số 0004129 tại Chi cục Thi hành án Dân sự Thành phố Sa Đéc được khấu trừ toàn bộ vào án phí phải nộp.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị T |
Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 34/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bên a ly hôn bên b
