Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 27 - 8 - 2024

V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Thạch

Các Thẩm phán: Nguyễn Thành Trung.

Nguyễn Thanh Tùng.

Thư ký phiên tòa: Nguyễn Quốc Song Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:

Lê Trung Kiên – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 30/2024/HNGĐ-PT ngày 02 tháng 7 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn”. Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 39/2024/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo, kháng nghị. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 35/2024/QĐXXPT-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thanh H, sinh năm 1983; địa chỉ: tổ C, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Bị đơn: Ông Lưu Hữu Q, sinh năm 1976; địa chỉ: tổ C, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Thị Thanh H.

- Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương kháng nghị theo Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 24/QĐKN-VKS-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/01/2024, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị Thanh H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thanh H và ông Lưu Hữu Q là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) T, huyện (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 52, Quyển số 01/2005, ngày 01 tháng 9 năm 2005. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2023 xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, mỗi người có lối sống riêng, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Ông Q và bà H thường xuyên xảy ra cãi vã, ông Q có lời nói đe dọa, không tôn trọng bà H. Đời sống vợ chồng không hạnh phúc, bà H không còn tình cảm với ông Q. Hiện tại, bà H và ông Q đã ly thân, bà H về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ tháng 01/2024 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Lưu Hữu Q.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lưu Nhật H1, sinh ngày 26/9/2005 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Thanh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Lưu Hữu Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Lưu Hữu Q thống nhất lời trình bày của bà Lê Thị Thanh H về thời gian đăng ký kết hôn. Ông Q xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn lớn. Ông Q quan tâm, chăm lo, yêu thương gia đình, tôn trọng vợ. Thời gian trước đây, ông Q phát hiện bà H có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác nên vợ chồng xảy ra cãi nhau, ông Q thừa nhận có lớn tiếng với bà H nhưng mục đích mong muốn bà H thay đổi, quay về với gia đình để vợ chồng cùng nhau chăm sóc con cái, xây dựng gia đình hạnh phúc, nhưng bà H vẫn nộp đơn yêu cầu ly hôn. Trong thời gian bà H khởi kiện ly hôn tại Tòa án, ông Q nhiều lần nhắn tin cho bà H để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bà H không đồng ý. Ông Q xác định còn tình cảm với bà H và không đồng ý ly hôn. Ông Q sẽ cố gắng làm ăn, yêu thương, quan tâm, chăm sóc vợ con nhiều hơn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lưu Nhật H1, sinh ngày 26/9/2005 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Lưu Hữu Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 39/2024/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Thanh H về việc ly hôn với bị đơn ông Lưu Hữu Q;

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024 nguyên đơn bà Lê Thị Thanh H kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, cho bà H được ly hôn với ông Q.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024 Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 24/QĐKN-VKS-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024, kháng nghị đối với Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 39/2024/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm theo hướng sửa bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho nguyên đơn bà Lê Thị Thanh H được ly hôn với bị đơn ông Lưu Hữu Q.

Ý kiến đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thanh H và ông Lưu Hữu Q đăng ký kết hôn năm 2005, là hôn nhân hợp pháp. Bà H khai vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, ông Q có nhiều lời lẽ đe dọa, không tôn trọng bà H. Đời sống vợ chồng không còn hạnh phúc, bà H xác định không còn tình cảm với ông Q nên yêu cầu được ly hôn với ông Q.

Bị đơn Lưu Hữa Q1 khai, vào năm 2022 ông Q1 phát hiện bà H có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác nên vợ chồng xảy ra cãi vã nhau, ông Q1 thừa nhận trong lúc bức xúc có lớn tiếng với bà H.

Căn cứ Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình, xét thấy bà H và ông Q1 không còn sống chung, vợ chồng ly thân từ tháng 02/2024, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Ông Q1 cho rằng vẫn còn tình cảm với bà H và không đồng ý ly hôn, nhưng từ khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, ông Q1 không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tòa án tiến hành hoà giải theo quy định pháp luật, nguyên đơn, bị đơn có mặt tham gia hòa giải nhưng vợ chồng đoàn tụ không thành, quá trình giải quyết vụ án bà H xác định không còn tình cảm với ông Q1.

Từ những phân tích trên cho thấy cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông Q1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu khởi kiện kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Bản án cấp sơ thẩm nhận định mâu thuẫn vợ chồng chưa trầm trọng, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đánh giá mâu thuẫn không phù hợp với thực tế.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thanh H và ông Lưu Hữu Q có đăng ký kết hôn tại UBND xã (nay là phường) T, huyện (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 52, quyển số 01/2005, ngày 01 tháng 9 năm 2005, là hôn nhân hợp pháp.
  2. Nguyên đơn bà Lê Thị Thanh H xác định mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp, vợ chồng không có tiếng nói chung, trong đời sống hôn nhân thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã, ông Q không tôn trọng bà H. Nay tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu ly hôn với ông Q.
  3. Bị đơn ông Lưu Hữu Q không đồng ý ly hôn với bà H vì ông còn yêu thương vợ con, mong muốn vợ chồng hàn gắn. Ông Q hứa sửa chữa lỗi lầm, cùng bà H xây dựng gia đình hạnh phúc.

Xét thấy: Theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, nhưng hiện nay giữa bà H và ông Q không còn sống chung, vợ chồng mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, ông Q có lời lẽ đe dọa, không tôn trọng bà H. Đời sống vợ chồng không còn hạnh phúc, bà H xác định không còn tình cảm với ông Q, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông Q đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương và kháng cáo của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.

  1. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lưu Nhật H1, sinh ngày 26/9/2005 đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  2. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  3. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  4. Về án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm: Nguyên đơn không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 269, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 24/QĐKN-VKS-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương; chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Thanh H về việc “Tranh chấp ly hôn” với bị đơn ông Lưu Hữu Q.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thanh H được ly hôn với ông Lưu Hữu Q.
    • - Về con chung: Con chung tên Lưu Nhật H1, sinh ngày 26/9/2005 đã trưởng thành, không xem xét, giải quyết.
    • Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Thanh H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001938 ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Án phí dân sự phúc thẩm: Bà H không phải nộp, bà H được nhận lại 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001467 ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - TAND thành phố Tân Uyên;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - CCTHADS thành phố Tân Uyên;
  • - UBND phường Thái Hòa, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Ngọc Thạch

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HNGĐ-PT ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 34/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger