TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2024/DS-ST Ngày 28 - 9 - 2024 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai;
Bà Hoàng Thị Hồng Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên toà: Bà Lê Bảo Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 33/2024/TLST- DS ngày 28 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần B; địa chỉ: A Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Thái H – Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Duy H1 – Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần B, chi nhánh V1 (Theo quyết định ủy quyền số 02/2023/QĐ-TGĐ ngày 03/01/2023)
Người được ủy quyền lại:
Ông Nguyễn Duy Đ - Trưởng phòng kinh doanh Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh V1.
Ông Nguyễn Mạnh C - Chuyên viên phòng QHKH Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh V1.
Đều có địa chỉ: Số A đường T, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
(Theo Giấy ủy quyền số 26.06/2023/UQ-GĐ ngày 25/7/2023).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành V, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị Minh C1, sinh năm 1982;
Đều có địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ghi ngày 26 tháng 7 năm 2023 và các lời khai tiếp theo, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại cổ phần B ông Nguyễn Mạnh C trình bày: Ngày 09/09/2019, ông Nguyễn Thành V và bà Nguyễn Thị Minh C1 ký Hợp đồng tín dụng số: 4102019BacABank với Ngân hàng Thương mại cổ phần B (viết tắt là Ngân hàng B) để vay số tiền là 730.000.000 đồng (Bảy trăm ba mươi triệu đồng). Thời hạn vay vốn 84 tháng (kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân khoản vay đầu tiên), mục đích vay: Thanh toán tiền mua xe ô tô con nhãn hiệu MAZDA, Lãi suất 11,6%/năm, lãi suất cho vay thả nổi bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam trả lãi cuối kỳ của Ngân hàng Thương mại cổ phần B công bố trong từng thời kỳ có kỳ hạn 12 tháng (cộng) với mức biên độ là: 3,5%. Lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng/lần kể từ ngày giải ngân trên mỗi Khế ước nhận nợ. Trường hợp ngày điều chỉnh lãi suất không phải là ngày làm việc thì ngày điều chỉnh lãi suất đó sẽ được xác định vào ngày làm việc tiếp theo; lãi suất nợ quá hạn bằng 150% so với lãi vay trong hạn. Thực hiện hợp đồng tín dụng Ngân hàng B đã giải ngân cho ông V, bà C1 số tiền 730.000.000 đồng theo khế ước nhận nợ sô 01- 410/2019/HĐTD- B, thời hạn vay và lãi suất vay như hợp đồng tín dụng số: 4102019BacABank ngày 09/9/2019 số: 4102019BacABank ngày 09/9/2019. Hàng tháng vào ngày 25 ông V, bà C1 phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 8.690.000đồng và số tiền lãi theo dư nợ thực tế, trả số tiền gốc còn lại vào kỳ cuối cùng.
Để đảm bảo khoản vay ông V bà C1 đã thế chấp cho Ngân hàng B 01 chiếc xe ô tô con, nhãn hiệu MAZDAmàu trắng BKS: 88A-287.34giấy chứng nhận Đăng ký xe ô tô số 048537Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh V ngày 06/09/2019mang tên ông Nguyễn Thành V. Theo hợp đồng thế chấp xe ô tô hình thành trong tương lai số 410/2019/HĐTC.060 ngày 09/9/2019 và phụ lục hợp đồng thế chấp xe ô tô hình thành trong tương lai ngày 11/9/2019 được công chứng tại Phòng C2 và được đăng ký giao dịch tài sản đảm bảo tại: Cục Đ1 – Bộ tư pháp Hệ thống đăng ký trực tuyến ngày 09/09/2019. Thực hiện hợp đồng tín dụng ông V, bà C1 đã trả được cho Ngân hàng số tiền gốc là 369.280.120đ, số tiền lãi là 203.885.021đ. Từ ngày 25 tháng 3 năm 2023, ông V, bà C1 vi phạm thời hạn trả nợ cho Ngân hàng nên toàn bộ khoản vay trên bị chuyển sang nợ quá hạn. Đến ngày 22/2/2024 ông V chuyển vào tài khoản của ông tại Ngân hàng số tiền 4.000.000đ, số tiền trên được trích nợ tự động 3.963.000đ vào nợ gốc qua hạn, vào phí duy trì tài khoản của ông V là 37.000đ. Sau đó ông V, bà C1 không trả thêm cho Ngân hàng số tiền nào.
Nay Ngân hàng B yêu cầu ông V bà C1 phải thanh toán trả ngân hàng tổng số tiền nợ đến hết ngày 28/9/2024 là 429.125.003 đồng, trong đó nợ gốc trong hạn là 199.910.000 đồng, nợ gốc quá hạn là 156.846.870đ, tiền lãi trong hạn là 46.268.686 đồng, tiền lãi quá hạn là 26.099.447 đồng. Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử ngày 29/9/2024 ông V, bà C1 phải chịu lãi suất quá hạn là 13,65%/năm (lãi suất trong hạn là 9,1%/năm) trên dư nợ gốc trong hạn theo lãi suất thỏa thuận trong theo Hợp đồng tín dụng số: 4102019BacABank ngày 09/9/2019 và khế ước nhận nợ sô 01-410/2019/HĐTD- B1 ngày 09/9/2019 cho đến khi trả xong nợ gốc. Trường hợp ông V bà C1 không trả số tiền nêu trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng được đề nghị Cơ quan có thẩm quyền xử lý, bán phát mại tài sản thế chấp là chiếc xe xe ô tô con nhãn hiệu MAZDAàu TrắngBKS: 88A-287.34 giấy chứng nhận Đăng ký xe ô tô số 048537Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh V ngày 06/09/2019tên ông Nguyễn Thành V Theo hợp đồng thế chấp xe ô tô hình thành trong tương lai số 410/2019/HĐTC.060 ngày 09/9/2019 và phụ lục hợp đồng thế chấp xe ô tô hình thành trong tương lai ngày 11/9/2019.
Bị đơn ông Nguyễn Thành V và bà Nguyễn Thị Minh C1 tại phiên tòa vắng mặt nhưng tại biên bản lấy lời khai ông V trình bày: Ông xác nhận việc ký kết hợp đồng tín dụng số: 4102019BacABank ngày 09/09/2019 với Ngân hàng B để vay số tiền là 730.000.000 đồng (Bảy trăm ba mươi triệu đồng). Thời hạn vay vốn 84 tháng, mục đích vay: Thanh toán tiền mua xe ô tô con nhãn hiệu MAZDA, lãi suất vay và kỳ hạn trả nợ như ngân hàng trình bày là đúng. Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, vợ chồng ông đã thế chấp cho Ngân hàng B tài sản là 01 chiếc xe ô tô con, nhãn hiệu MAZDAmàu Trắng BKS: 88A-287.34 giấy chứng nhận Đăng ký xe ô tô số 048537Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh V ngày 06/09/2019mang tên Nguyễn Thành V. Quá trình thực hiện hợp đồng vợ chồng ông đã trả được số tiền gốc khoảng 369.280.120đ và tiền lãi. Sau đó do làm ăn khó khăn nên vợ chồng ông bà không trả được tiền cho Ngân hàng. Nay Ngân hàng B khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc, tiền lãi, ông nhất trí trả cho Ngân hàng nhưng đề nghị Ngân hàng xem xét giảm tiền lãi cho vợ chồng ông.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo hợp lệ cho ông V bà C1 đem chiếc xe ô tô MAZDAmàu TrắngBKS: 88A-287.34đến UBND phường K để xem xét, thẩm định tại chỗ. Tuy nhiên ông V, bà C1 không đem chiếc xe ô tô đến UBND phường Khai Quang nên Tòa án không tiến hành xem xét, thẩm định được chiếc xe ô tô. Chiếc xe ô tô con nhãn hiệu MAZDAmàu Trắng BKS: 88A- 287.34được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Cục Đ1 – Bộ tư pháp Hệ thống đăng ký trực tuyến, thời hạn đăng ký giao dịch bảo đảm chiếc xe ô tô trên vẫn còn hiệu lực, chiếc xe ô tô trên chưa xóa thế chấp đăng ký giao dịch bảo đảm trên hệ thống. Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Ngân hàng TMCP B đang quản lý đăng ký xe (bản gốc) của chiếc xe ô tô nhãn hiệu MAZDABKS: 88A-287.34
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên phát biểu quan điểm như sau:
Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn, không chấp hành quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 90, 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 280, 317, 318, 463, 466 của Bộ luật dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B. Buộc ông V bà C1 phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi tính đến hết ngày 28/9/2024 là 429.125.003 đồng, trong đó nợ gốc trong hạn là 199.910.000 đồng, nợ gốc quá hạn là 156.846.870đ, tiền lãi trong hạn là 46.268.686 đồng, tiền lãi quá hạn là 26.099.447 đồng. Kể từ ngày 29/9/2024 ông V, bà C1 phải chịu lãi suất quá hạn là 13,65%/năm (theo lãi suất trong hạn là 9,1%/năm) trên dư nợ gốc trong hạn theo Hợp đồng tín dụng số: 4102019BacABank ngày 09/9/2019 và khế ước nhận nợ sô 01-410/2019/HĐTD- B1 ngày 09/9/2019 cho đến khi trả xong nợ gốc.
Trường hợp ông V bà C1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là xe ô tô con nhãn hiệu MAZDAmàu Trắng BKS: 88A-287.34giấy chứng nhận Đăng ký xe ô tô số 048537Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh V ngày 06/09/2019cho ông Nguyễn Thành V. Theo hợp đồng thế chấp xe ô tô hình thành trong tương lai số 410/2019/HĐTC.060 ngày 09/9/2019 và phụ lục hợp đồng thế chấp xe ô tô hình thành trong tương lai ngày 11/9/2019. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì ông V bà C1 vẫn phải tiếp tục trả cho Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong. Về chi phí tố tụng và án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng B khởi kiện bị đơn là ông Nguyễn Thành V và bà Nguyễn Thị Minh C1 có hộ khẩu tại tổ dân phố Đ, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, giấy triệu tập cho ông V, bà C1 nhưng bà C1 không đến Tòa án làm việc, không có lời khai của bà C1, ông V, bà C1 không đến Tòa án để tham gia phiên họp công khai chứng cứ và phiên hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được giữa các đương sự.
Tại phiên tòa bị đơn ông V và bà C1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
Về pháp luật áp dụng: Năm 2023 các đương sự xảy ra tranh chấp nên pháp luật áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 và Bộ luật dân sự năm 2015; Luật các tổ chức tín dụng năm 2011; Nghị quyết số 01/2019 ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng B thấy rằng: Ngày 09/09/2019 ông Nguyễn Thành V, bà Nguyễn Thị Minh C1 và Ngân hàng B đã ký hợp đồng tín dụng số 4102019BacABank để vay số tiền là 730.000.000 đồng, mục đích để mua xe ô tô. Theo hợp đồng tín dụng Ngân hàng B đã giải ngân cho ông V, bà C1 số tiền 730.000.000 đồng theo khế ước nhận nợ sô 01-410/2019/HĐTD- B1 ngày 09/9/2019, thời hạn vay và lãi suất vay như hợp đồng tín dụng số: 4102019BacABank ngày 09/9/2019. Hàng tháng vào ngày 25 ông V, bà C1 phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 8.690.000đồng và số tiền lãi theo dư nợ thực tế, trả số tiền gốc còn lại vào kỳ cuối cùng. Để đảm bảo khoản vay ông V bà C1 đã thế chấp cho Ngân hàng B xe ô tô con nhãn hiệu MAZDAmàu TrắngBKS: 88A- 287.34giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 048537Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh V ngày 06/09/2019mang tên ông Nguyễn Thành V. Theo hợp đồng thế chấp xe ô tô hình thành trong tương lai số 410/2019/HĐTC.060 ngày 09/9/2019 và phụ lục hợp đồng thế chấp xe ô tô hình thành trong tương lai ngày 11/9/2019. Chiếc xe ô tô con nhãn hiệu MAZDAmàu TrắngBKS: 88A-287.34được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Thực hiện hợp đồng tín dụng, ông V, bà C1 đã trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 369.280.120đ, số tiền lãi là 203.885.021đ, từ ngày 25 tháng 3 năm 2023, ông V, bà C1 vi phạm kỳ hạn trả nợ cho Ngân hàng B nên toàn bộ khoản vay trên bị chuyển sang nợ quá hạn. Đến ngày 22/2/2024 ông V chuyển vào tài khoản của ông tại Ngân hàng số tiền 4.000.000đ, số tiền trên được trích nợ tự động 3.963.000đ vào nợ gốc qua hạn, vào phí duy trì tài khoản là 37.000đ. Sau đó ông V, bà C1 không trả thêm cho Ngân hàng B số tiền nào. Hợp đồng tín dụng vay vốn giữa Ngân hàng TMCP B và hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm cho việc vay vốn đã được tiến hành ký kết theo đúng quy định của pháp luật thì các bên phải thực hiện nghĩa vụ theo các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng. Do ông V bà C1 vi phạm kỳ hạn nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng B yêu cầu ông V bà C1 phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc và tiền lãi tính đến hết ngày 28/9/2024 là 429.125.003 đồng, trong đó nợ gốc trong hạn là 199.910.000 đồng, nợ gốc quá hạn là 156.846.870đ, tiền lãi trong hạn là 46.268.686 đồng, tiền lãi quá hạn là 26.099.447 đồng là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về lãi suất kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 29/9/2024 Ngân hàng yêu cầu ông V, bà C1 phải trả tiền lãi quá hạn là 13,65%/năm (theo lãi suất trong hạn là 9,1%/ năm) trên dư nợ gốc trong hạn theo Hợp đồng tín dụng số: 4102019BacABank ngày 09/9/2019 và khế ước nhận nợ sô 01-410/2019/HĐTD- B1 ngày 09/9/2019 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc. Xét thấy việc đề nghị về lãi suất nêu trên của Ngân hàng P với hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2019 ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.1] Đối với tài sản thế chấp là xe ô tô con nhãn hiệu MAZDAmàu Trắng, BKS: 88A-287.34 Tòa án đã thông báo hợp lệ cho ông V, bà C1 đem chiếc xe ô tô nêu trên đến UBND phường K để tiến hành xem xét thẩm định. Tuy nhiên ông V, bà C1 không đem chiếc xe ô tô đến UBND phường K nên không xem xét, thẩm định được chiếc xe ô tô. Do đó nếu ông V, bà C1 không thanh toán cho Ngân hàng số tiền nêu trên thì Ngân hàng TMCP B có quyền đề nghị Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô con nhãn hiệu MAZDAmàu TrắngBKS: 88A-287.34 Theo hợp đồng thế chấp xe ô tô hình thành trong tương lai số 410/2019/HĐTC.060 ngày 09/9/2019 và phụ lục hợp đồng thế chấp xe ô tô hình thành trong tương lai ngày 11/9/2019.
[3.2] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên ông V, bà C1 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.400.000đ để trả cho Ngân hàng TMCP B.
[3.3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng B được Tòa án chấp nhận nên ông V bà C1 phải chịu án phí, Ngân hàng B không phải chịu án phí và được trả lại tiền tạm ứng án phí.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, được xem xét khi quyết định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 90, 91, 95, 98 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 280, 317, 318, 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26, 35, 39 và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần B.
1. Buộc ông Nguyễn Thành V và bà Nguyễn Thị Minh C1 phải trả cho Ngân hàng TMCP B số tiền gốc và tiền lãi tính đến hết ngày 28/9/2024 là 429.125.003 đồng, trong đó nợ gốc trong hạn là 199.910.000 đồng, nợ gốc quá hạn là 156.846.870đ, tiền lãi trong hạn là 46.268.686 đồng, tiền lãi quá hạn là 26.099.447 đồng. Kể từ ngày 29/9/2024, ông V, bà C1 phải chịu lãi suất quá hạn là 13,65%/năm (theo lãi suất trong hạn là 9,1%/năm) trên dư nợ gốc trong hạn theo Hợp đồng tín dụng số: 4102019BacABank ngày 09/9/2019 và khế ước nhận nợ sô 01-410/2019/HĐTD- B1 ngày 09/9/2019 cho đến khi trả xong nợ gốc.
Nếu ông V bà C1 không trả số tiền trên cho Ngân hàng TMCP B thì Ngân hàng TMCP B có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là xe ô tô con nhãn hiệu MAZDAmàu Trắng BKS: 88A-287.34 Theo hợp đồng thế chấp xe ô tô hình thành trong tương lai số 410/2019/HĐTC.060 ngày 09/9/2019 và phụ lục hợp đồng thế chấp xe ô tô hình thành trong tương lai ngày 11/9/2019. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP B thì ông V bà C1 vẫn phải tiếp tục trả nợ cho đến khi thanh toán xong.
1.2. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Thành V và bà Nguyễn Thị Minh C1 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.400.000đ để trả cho Ngân hàng TMCP B.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán khoản tiền nêu trên thì người phải thi hành án phải chịu lãi suất chậm trả của số tiền phải thi hành án là 10%/năm.
1.3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Thành V và bà Nguyễn Thị Minh C1 phải chịu 21.165.000 đồng (hai mươi mốt triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).
Trả lại cho Ngân hàng TMCP B số tiền tạm ứng án phí là 9.507.000₫ (Chín triệu năm trăm linh bảy nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0005811 ngày 28/3/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
1.4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thị Đường |
Bản án số 34/2024/DS-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 34/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Buộc ông Nguyễn Thành Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Châu phải trả cho Ngân hàng TMCP Bắc Á số tiền gốc và tiền lãi tính đến hết ngày 28/9/2024 là 429.125.003 đồng, trong đó nợ gốc trong hạn là 199.910.000 đồng, nợ gốc quá hạn là 156.846.870đ, tiền lãi trong hạn là 46.268.686 đồng, tiền lãi quá hạn là 26.099.447 đồng.
