|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2024/DSST Ngày: 05-6-2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH PHÚ YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Tân Sang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Khắc Hiếu và ông Trần Đại Minh.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Tiền – Kiểm sát viên.
Trong ngày 05/06/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 13/2023/TLST-DS ngày 19/01/2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 38/2024/QĐST-DS ngày 16 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S; Địa chỉ: 2 N, phường H, Quận C, Tp Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng giám đốc làm đại diện.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Tấn L, chức vụ: Phó Giám đốc chi nhánh P theo quyết định ủy quyền số 3272/2022/QĐ-PL ngày 26/12/2022 của Tổng giám đốc.
Ông L ủy quyền lại cho ông Lê Hoàng N, chức vụ: chuyên viên khách hàng của Ngân hàng TMCP S chi nhánh P làm đại diện theo giấy ủy quyền số 03/2024/GUQ-CNPY ngày 28/03/2024 của Quyền Giám đốc chi nhánh P; Địa chỉ: B – 207 – 209 – B H, phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt
- Bị đơn: Bà Đặng Quỳnh Bảo T, sinh năm 1992; Địa chỉ: A N, phường E, Tp T, Phú Yên. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/11/2023, quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S, ông Lê Hoàng N trình bày: Ngày 22/9/2022 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S (gọi tắt: Ngân hàng) và bà Đặng Quỳnh Bảo T có ký kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 2258310 ngày 22/9/2022, theo đó Ngân hàng cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng 50.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất hai bên thỏa thuận 31,2%/năm, thời hạn trả nợ không xác định.
Trong quá trình vay vốn và sử dụng thẻ tín dụng, do bà T không trả nợ cho Ngân hàng nên đến ngày 16/9/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ gốc quá hạn là 50.509.999 đồng. Từ ngày 16/9/2023 cho đến nay, nhiều lần Ngân hàng nhắc nhở và yêu cầu bà T trả nợ nhưng bà T không trả nợ cho Ngân hàng. Tính đến ngày 05/06/2024 bà T còn nợ tổng cộng số tiền 69.039.296 đồng trong đó nợ gốc 50.509.999 đồng, nợ lãi trong hạn 5.262.421 đồng, nợ lãi quá hạn 13.266.876 đồng. Vì bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện và yêu cầu bà T trả số tiền 69.039.296 đồng và tiền lãi phát sinh sau ngày 05/06/2024 theo hợp đồng đã ký kết cho đến khi bà T trả nợ xong.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Đặng Quỳnh Bảo T vắng mặt nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng qui định. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật; Bị đơn bà T không chấp hành các quy định pháp luật. Phát biểu ý kiến về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 463, 466 Bộ luật dân sự; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà T phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 05/06/2024 là 69.039.296 đồng và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Về án phí: bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về hợp đồng tín dụng giữa pháp nhân và cá nhân không có mục đích kinh doanh là tranh chấp hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn bà Đặng Quỳnh Bảo T có nơi cư trú tại thành phố T, tỉnh Phú Yên nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn bà Đặng Quỳnh Bảo T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện: Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 2258310 ngày 22/09/2022 và điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S (có hiệu lực từ ngày 22/10/2022), xác định bị đơn bà Đặng Quỳnh Bảo T có vay của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S - chi nhánh P (phòng G) số tiền 50.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất hai bên thỏa thuận 31,2%/năm, thời hạn trả nợ không xác định.
Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bà T không trả nợ cho Ngân hàng nên ngày 16/09/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ gốc quá hạn là 50.509.999 đồng. Tính đến ngày 05/06/2024 bà T còn nợ Ngân hàng tổng cộng số tiền 69.039.296 đồng trong đó nợ gốc 50.509.999 đồng, nợ lãi trong hạn 5.262.421 đồng, nợ lãi quá hạn 13.266.876 đồng. Nhiều lần, Ngân hàng yêu cầu bà T trả nợ nhưng bà T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng đã ký kết. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt tại Tòa và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cũng như gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số tiền nợ nêu trên.
Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S là có căn cứ chấp nhận, buộc bị đơn bà T phải trả cho nguyên đơn tổng cộng số tiền tính đến ngày 05/6/2024 là 69.039.296 đồng và tiền lãi phát sinh theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 2258310 ngày 22/09/2022 mà hai bên đã ký kết.
Từ những căn cứ nêu trên nên chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Về án phí: Bị đơn bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, 228 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S.
Buộc bị đơn bà Đặng Quỳnh Bảo T phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S tổng cộng số tiền tính đến ngày 05/06/2024 là 69.039.296 đồng (sáu mươi chín triệu không trăm ba mươi chín nghìn hai trăm chín mươi sáu đồng) trong đó nợ gốc 50.509.999 đồng (năm mươi triệu năm trăm lẻ chín nghìn chín trăm chín mươi chín đồng), nợ lãi trong hạn 5.262.421 đồng (năm triệu hai trăm sáu mươi hai nghìn bốn trăm hai mươi mốt đồng), nợ lãi quá hạn 13.266.876 đồng (mười ba triệu hai trăm sáu mươi sáu nghìn tám trăm bảy mươi sáu đồng) về khoản tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 05/6/2024), bà Đặng Quỳnh Bảo T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất mà bà Đặng Quỳnh Bảo T phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
Về án phí: Bị đơn bà Đặng Quỳnh Bảo T phải chịu 3.452.000 đồng (ba triệu bốn trăm năm mươi hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí 1.358.000 đồng (một triệu ba trăm năm mươi tám nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số số 0012871 ngày 19/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Thị Tân Sang |
Bản án số 34/2024/DSST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 34/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ
