Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/DS-ST

Ngày: 24/6/2024

“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hủy chỉnh lý trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; vô hiệu văn bản thỏa thuận về việc thống nhất để người đứng tên sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Ngọc Yến

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Văn Thới
  2. Ông Nguyễn Hoàng Huy

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chiêu Linh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Chi, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 17 và 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 139/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy chỉnh lý trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vô hiệu văn bản thỏa thuận về việc thống nhất để người đứng tên sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐ-ST ngày 11 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà La Thị D, sinh năm 1969.

    Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Long An.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Hà Văn H, sinh năm 1966.

    Địa chỉ: Số I đường N, khu phố C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.

  2. Bị đơn:
    1. Bà Ngô Thị B, sinh năm 1938.
    2. Bà Châu Thị P, sinh năm 1971.
    3. Bà Châu Thị P1, sinh năm 1973.
    4. Bà Châu Thị P2, sinh năm 1974.

      Cùng địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Long An.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Châu Thị P3, sinh năm 1977.
    2. Bà Châu Thị R, sinh năm 1979.
    3. Ông La Văn B1, sinh năm 1939.
    4. Ông Mai Văn L, sinh năm 1973.

      Cùng địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Long An.

    5. Ông Châu Văn M, sinh năm 1963.
    6. Ông Châu Văn M1, sinh năm 1966.

      Cùng địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Long An.

    7. Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Long An.

      Địa chỉ: Số B Quốc lộ A, khu phố C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.

    8. Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh L.

      Địa chỉ: Số A Quốc lộ A, phường D, thành phố T, tỉnh Long An.

    9. Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Long An.

      Địa chỉ: Xã T, huyện B, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện ngày 17/5/2023, đơn khởi kiện bổ sung ngày 16/8/2023 của nguyên đơn bà La Thị D và những lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Hà Văn H trình bày:

Cụ Châu Văn N và cụ Nguyễn Thi Đ là vợ chồng. Trong quá trình chung sống, cụ Châu Văn N (đã chết) và cụ Nguyễn Thi Đ (đã chết) có 03 người con là:

  1. Ông Châu Văn C (chết năm 2004) có vợ là bà Ngô Thị B. Ông C và bà B có 07 người con gồm: Ông Châu Văn M, ông Châu Văn M1, bà Châu Thị P, bà Châu Thị P1, bà Châu Thị P2, bà Châu Thị P3, bà Châu Thị R. Ông C và bà B không còn người con chung, con riêng, con nuôi hoặc con ngoài giá thú nào khác.
  2. Bà Châu Thị L1.
  3. Bà Châu Thị B2 (đã chết), có chồng là ông La Văn B1 và con là bà La Thị D. Ông B1 và bà B2 không còn người con chung, con riêng, con nuôi hoặc con ngoài giá thú nào khác.

Nguồn gốc thửa đất số 1851, tờ bản đồ số 4 (thửa mới là thửa 532, tờ bản đồ số 36, loại đất BHK, đất tọa lạc tại ấp 5, xã Thạnh Lợi, huyện Bến Lức, tỉnh Long An là của ông Châu Văn C. Ông C đã kê khai đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 21/5/1996. Năm 2004 ông C chết, bà Ngô Thị B đã làm thủ tục thừa kế của ông C và được chỉnh lý sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26/8/2008.

Tuy nhiên trước đó vào cuối năm 1992, ông C đã chuyển nhượng thửa đất 1851 cho bà Châu Thị B2 với giá 4.500.000 đồng. Do là chỗ anh em ruột trong gia đình nên việc chuyển nhượng đất chỉ thỏa thuận miệng, không lập giấy chuyển nhượng đất, các anh chị em trong gia đình đều biết.

Sau khi bà B2 nhận chuyển nhượng đất, ông C đã giao đất cho bà B2 quản lý sử dụng từ năm 1993 đến năm 2016 bà B2 chết thì bà D là con ruột của bà B2 quán lý sử dụng cho đến nay. Hiện nay trên đất bà D đang trồng chanh.

Năm 2004, ông Châu Văn C chết. Đến năm 2008 bà Ngô Thị B cùng với các con lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế để lại cho bà Ngô Thị B đứng tên quyền sử dụng đất. Năm 2014 thực hiện chủ trương cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nâng cấp tỷ lệ bản đồ địa chính, bà Ngô Thị B có đến Ủy ban nhân dân xã T làm thủ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà B bỏ ra thửa số 1851. Lý do, thời điểm 1993 ông C đã chuyển nhượng cho bà Châu Thị B2 phần đất nêu trên.

Bà La Thị D đã liên hệ với bà Ngô Thị B để làm thủ tục cấp đổi thửa đất số 1851, tờ bản đồ số 4. Khi bà B được cấp đổi thửa đất số 1851 sẽ làm thủ tục chuyển nhượng lại cho bà D. Hiện nay, con bà Ngô Thị B là bà Châu Thị P ngang nhiên đến cắm trụ làm ranh giới thửa đất số 532. Bà P cho rằng phần đất trên còn đứng tên sử dụng của mẹ bà, nếu như bà B2 có giấy mua bán ở thời điểm năm 1993 thì xuất trình ra.

Ngày 29/7/2022 bà La Thị D làm đơn yêu cầu hòa giải gửi đến Ủy ban nhân dân xã T. Kết quả hòa giải ngày 19/10/2022 và ngày 02/11/2022 không thành nên bà D làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân có thẩm quyền để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bà La Thị D khởi kiện yêu cầu:

  • Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 684268, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01947 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 21/5/1996 cho ông Châu Văn C.
  • Hủy chỉnh lý biến động sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Văn phòng đăng ký đất đai huyện B chỉnh lý sang tên cho bà Ngô Thị B ngày 26/8/2008.
  • Yêu cầu vô hiệu một phần Văn bản thỏa thuận về việc thống nhất để người đứng tên sử dụng đất ngày 16/6/2008 được Ủy ban nhân dân xã T chứng thực số 25/CCCT, quyển số 01, trang số 12 ngày 18/7/2008 đối với thửa đất số 1851, tờ bản đồ số 4 (thửa mới là thửa 532, tờ bản đồ số 36), loại đất BHK, đất tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Long An.
  • Công nhận cho bà La Thị D phần đất tại khu (A) và khu (B) thuộc thửa đất số 1851, tờ bản đồ số 4 (thửa mới là thửa 532, tờ bản đồ số 40), loại đất BHK, đất tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo địa chính số 255-2023 của Công ty TNHH Đ2 đo ngày 20/7/2023, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai ký duyệt ngày 27/7/2023.

Bà La Thị D thống nhất và đồng ý với M2 trích đo địa chính số 255-2023 do Công ty TNHH Đ2 đo đạc ngày 20/7/2023, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai ký duyệt ngày 27/7/2023 và Biên bản định giá tài sản ngày 04/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, không yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An đo đạc và định giá lại.

Ông Hà Văn H là người đại diện theo ủy quyền của bà La Thị D không đồng ý đối với yêu cầu phản tố của bà Châu Thị P về việc trả lại thửa đất 1851 cho bà Ngô Thị B vì năm 1993 ông Châu Văn C đã chuyển nhượng thửa 1851 cho mẹ bà D là bà Châu Thị B2, ông C đã nhận đủ tiền và giao đất cho bà B2 quản lý sử dụng từ năm 1993. Do không am hiểu pháp luật nên năm 1996 bà Ngô Thị B không kê khai đăng ký để được nhà nước cấp thửa đất 1851.

2. Phần trình bày của bị đơn:

2.1. Bị đơn bà Ngô Thị B không tham gia tố tụng và cũng không có văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

2.2. Bị đơn bà Châu Thị P trình bày:

Ông La Văn B1 và bà Châu Thị B2 là vợ chồng, bà B2 chết năm 2016 có một con chung là bà La Thị D. Ngoài ra ông B1, bà B2 không còn người con chung, con riêng, con nuôi hoặc con ngoài giá thú nào khác. Cha mẹ của ông B1 và bà B2 đều chết trước ông B1 và bà B2.

Ông Châu Văn C (chết năm 2004) và bà Ngô Thị B là vợ chồng; ông C và bà B có 07 người con gồm: Bà Châu Thị P, bà Châu Thị P1, bà Châu Thị P2, bà Châu Thị P3, bà Châu Thị R, ông Châu Văn M, ông Châu Văn M1. Ông C và bà B không còn người con chung, con riêng, con nuôi hoặc con ngoài giá thú nào khác. Cha mẹ của ông C và bà B đều chết trước ông C và bà B.

Ông Châu Văn C và bà Châu Thị B2 là anh em ruột.

Nguồn gốc thửa đất số 1851, tờ bản đồ số 4 (thửa mới là 532, tờ bản đồ số 40), loại đất BHK tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Long An ông C được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 21/5/1996. Năm 2004 ông C chết, bà Ngô Thị B kê khai di sản thừa kế và được chỉnh lý sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 26/8/2008.

Vào năm 1993 ông C có cho bà B2 mướn phần đất này để sử dụng, hai bên không làm giấy cho mướn đất, không có ai chứng kiến. Bà B2 đưa cho ông C 3 lần tiền, tổng cộng là 4.500.000 đồng, B3 có hỏi lại cha bà thì cha bà nói là cho bà B2 mướn đất đến khi bà B2 chết thì sẽ trả lại phần đất này.

Năm 2014 thực hiện chủ trương việc cấp đổi lại giấy chứng nhận, nâng cấp tỷ lệ bản đồ địa chính, bà Ngô Thị B có đến Ủy ban nhân dân xã T làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không có thửa 1851 thì bà không biết. Năm 2016 bà B2 chết, trước khi chết bà B2 có trồng chanh nên gia đình bà để cho con của bà B2 là bà D thu hoạch hết đợt chanh, sau đó bà D có khởi kiện đến Ủy ban nhân dân xã T và sự việc kéo dài cho đến nay.

Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà không đồng ý vì phần đất này là của cha bà, cha bà chỉ cho bà B2 mướn đất, không chuyển nhượng đất cho bà B2. Hiện nay Ủy ban nhân dân xã T đang giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.

Hiện tại bà La Thị D đang quản lý, sử dụng thửa đất này nên ngày 24/8/2023 bà có yêu cầu phản tố: Yêu cầu bà La Thị D phải trả lại quyền sử dụng đất có diện tích đo đạc thực tế tại khu (A) bà khu (B) thuộc thửa đất số 1851, tờ bản đồ số 4 (thửa mới là thửa 532, tờ bản đồ số 40), loại đất BHK, đất tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo địa chính số 255-2023 của Công ty TNHH Đ2 ngày 20/7/2023, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai ký duyệt ngày 27/7/2023 cho mẹ bà là bà Ngô Thị B.

Bà Châu Thị P thống nhất và đồng ý với M2 trích đo địa chính số 255-2023 của Công ty TNHH Đ2 ngày 20/7/2023, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai ký duyệt ngày 27/7/2023 và Biên bản định giá tài sản ngày 04/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức. Đối với phần đất tại khu (C), (D), (E), (F) thuộc phần đất của bà La Thị D, bà P không có tranh chấp đối với phần đất này, không yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An đo đạc và định giá lại thửa đất tranh chấp.

2.3. Bị đơn bà Châu Thị P1 và bà Châu Thị P2 trình bày tại Biên bản lấy lời khai ngày 23/6/2023 có nội dung như sau: Bà P1 và bà P2 thống nhất về mối quan hệ huyết thống của gia đình ông La Văn B1 và bà Châu Thị B2; mối quan hệ huyết thống của gia đình ông Châu Văn C và bà Ngô Thị B; thống nhất nguồn gốc thửa đất số 1851 ông C được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 21/5/1996. Năm 2004 ông C chết, bà Ngô Thị B kê khai di sản thừa kế và được chỉnh lý sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 26/8/2008.

Vào năm 1993, bà B2 sử dụng phần đất này để trồng chanh. Bà P1, bà P2 không biết ông C có chuyển nhượng hay là cho bà B2 thuê mướn phần đất này. Trong quá trình bà B2 sử dụng đất thì hai bà không ngăn cản hay có ý kiến gì. Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hai bà không có ý kiến cũng như không có yêu cầu trong vụ án này và xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án ở Tòa án nhân dân các cấp.

3. Phần trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Châu Thị P3 trình bày tại Biên bản lấy lời khai ngày 28/6/2023 có nội dung như sau: Bà P3 thống nhất về mối quan hệ huyết thống của gia đình ông La Văn B1 và bà Châu Thị B2; mối quan hệ huyết thống của gia đình ông Châu Văn C và bà Ngô Thị B; thống nhất nguồn gốc thửa đất số 1851 ông C được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 21/5/1996. Năm 2004 ông C chết, bà Ngô Thị B kê khai di sản thừa kế và được chỉnh lý sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 26/8/2008.

Vào năm 1993, bà B2 sử dụng phần đất này để trồng chanh. Đến năm 2016 bà B2 chết thì con ruột của bà B2 là bà La Thị D quản lý, sử dụng phần đất này để trồng chanh.

Khoảng năm 1993, ông C có bán cho cô 10 bà là bà Châu Thị B2 phần đất thuộc thửa 1851. Tuy nhiên do là anh chị em trong gia đình nên không lập giấy bán đất, giá chuyển nhượng là 4.500.000 đồng. Việc cha bà bán đất cho bà B2 thì mẹ bà và các anh chị em trong gia đình đều biết và cùng sử dụng số tiền 4.500.000 đồng vì tại thời điểm đó kinh tế gia đình bà khó khăn.

Năm 2014 thực hiện chủ trương việc cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nâng cấp tỷ lệ bản đồ địa chính mẹ bà có đến Ủy ban nhân dân xã T làm thủ tục cấp đổi, đã bỏ ra thửa đất số 1851 vì thửa đất này đã chuyển nhượng cho cô 10 là bà Châu Thị B2.

Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bà đồng ý vì phần đất này cha bà đã bán cho bà B2. Bà không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án này và xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án ở Tòa án nhân dân các cấp.

3.2. Bà Châu Thị R trình bày tại Biên bản lấy lời khai ngày 04/7/2023 có nội dung như sau: Bà là con ruột của ông Châu Văn C (chết năm 2004) và bà Ngô Thị B. Quá trình chung sống, cha mẹ bà có 07 người con là Châu Thị P, Châu Thị P1, Châu Thị P2, Châu Thị P3, Châu Thị R, Châu Văn M, Châu Văn M1. Ngoài ra, ông C và bà B không còn người con chung, con riêng, con nuôi hoặc người con ngoài giá thú nào khác. Cha mẹ của ông C và bà B đều chết trước ông C và bà B.

Nguồn gốc thửa đất số 1851 là của ông Châu Văn C, ông C đã kê khai đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy cứng nhận quyền sử dụng đất ngày 21/5/1996. Năm 2004 ông C chết, bà B đã làm thủ tục thừa kế của ông C và được chỉnh lý sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26/8/2008.

Năm 1993 bà B2 sử dụng phần đất này để trồng chanh. Bà không biết ông C có chuyển nhượng đất hay là cho bà B2 thuê mướn. Bà B2 đã sử dụng phần đất này từ năm 1993 đến năm 2016 thì bà B2 chết; con gái của bà B2 là bà La Thị D tiếp tục quản lý sử dụng phần đất này cho đến nay. Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà không có ý kiến cũng như không có yêu cầu trong vụ án này và xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án ở Tòa án nhân dân các cấp.

3.3. Ông Châu Văn M trình bày tại Biên bản lấy lời khai ngày 28/6/2023 có nội dung như sau: Ông M thống nhất về mối quan hệ huyết thống của gia đình ông La Văn B1 và bà Châu Thị B2; mối quan hệ huyết thống của gia đình ông Châu Văn C và bà Ngô Thị B; thống nhất nguồn gốc thửa đất số 1851 ông C được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 21/5/1996. Năm 2004 ông C chết, bà Ngô Thị B kê khai di sản thừa kế và được chỉnh lý sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 26/8/2008.

Trước năm 1993, ông M là người canh tác trực tiếp thửa đất 1851 để trồng lúa, sau đó trồng mía. Đến năm 1993, cha ông có nói hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên bán phần đất này cho cô 1 (là bà Châu Thị B2) để lấy tiền. Tuy nhiên, do là anh chị em trong gia đình nên không lập giấy bán đất, giá chuyển nhượng là 4.500.000 đồng. Việc cha ông bán đất cho bà B2 thì mẹ ông và các anh chị em trong gia đình đều biết và cùng sử dụng số tiền 4.500.000 đồng vì tại thời điểm đó kinh tế gia đình ông khó khăn. Sau khi nhận chuyển nhượng, cha ông đã giao thửa đất này để bà B2 quản lý sử dụng. Vào năm 1993 bà B2 sử dụng phần đất này để trồng chanh, đến năm 2016 bà B2 chết thì con ruột của bà B2 là bà La Thị D quản lý, sử dụng phần đất này để trồng chanh.

Năm 2014 thực hiện chủ trương việc cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nâng cấp tỷ lệ bản đồ địa chính mẹ ông có đến Ủy ban nhân dân xã T làm thủ tục cấp đổi, đã bỏ ra thửa đất số 1851 vì thửa đất này đã chuyển nhượng cho cô 10 là bà Châu Thị B2.

Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông đồng ý vì phần đất này cha ông đã bán cho bà B2. Ông không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án này và xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án ở Tòa án nhân dân các cấp.

3.4. Ông Châu Văn M1 trình bày tại Biên bản lấy lời khai ngày 28/6/2023 có nội dung như sau: Ông M1 thống nhất về mối quan hệ huyết thống của gia đình ông La Văn B1 và bà Châu Thị B2; mối quan hệ huyết thống của gia đình ông Châu Văn C và bà Ngô Thị B; thống nhất nguồn gốc thửa đất số 1851 ông C được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 21/5/1996. Năm 2004 ông C chết, bà Ngô Thị B kê khai di sản thừa kế và được chỉnh lý sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 26/8/2008.

Trước năm 1993, anh trai ông là ông Châu Văn M là người canh tác trực tiếp thửa đất 1851 để trồng lúa, sau đó trồng mía. Đến năm 1993, cha ông có nói hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên bán phần đất này cho cô 1 (là bà Châu Thị B2) để lấy tiền. Tuy nhiên, do là anh chị em trong gia đình nên không lập giấy bán đất, giá chuyển nhượng là 4.500.000 đồng. Việc cha ông bán đất cho bà B2 thì mẹ ông và các anh chị em trong gia đình đều biết và cùng sử dụng số tiền 4.500.000 đồng vì tại thời điểm đó kinh tế gia đình ông khó khăn. Sau khi nhận chuyển nhượng, cha ông đã giao thửa đất này để bà B2 quản lý sử dụng. Vào năm 1993 bà B2 sử dụng phần đất này để trồng chanh, đến năm 2016 bà B2 chết thì con ruột của bà B2 là bà La Thị D quản lý, sử dụng phần đất này để trồng chanh.

Năm 2014 thực hiện chủ trương việc cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nâng cấp tỷ lệ bản đồ địa chính mẹ ông có đến Ủy ban nhân dân xã T làm thủ tục cấp đổi, đã bỏ ra thửa đất số 1851 vì thửa đất này đã chuyển nhượng cho cô 10 là bà Châu Thị B2.

Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông đồng ý vì phần đất này cha ông đã bán cho bà B2. Ông không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án này và xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án ở Tòa án nhân dân các cấp.

3.5. Ông Mai Văn L trình bày tại Bản tự khai ngày 18/7/2023 có nội dung như sau: Biên bản họp gia đình ngày 02/7/2022 gồm có những người có mặt là ông Mai Văn L, ông Châu Văn M, ông Châu Văn M1, bà Châu Thị P3, ông Phan Văn T (Trưởng ấp), ông Nguyễn Văn B4 và bà La Thị D. Ngoài ra, mặt sau của Biên bản họp gia đình ngày 02/7/2022 có chữ ký của ông Lê Văn K, ông Mai Văn N1, bà Nguyễn Thị T1 là những chủ đất liền kề giáp ranh với phần đất mà bà D đang trực tiếp quản lý sử dụng, mục đích là để xác định việc bà D có trực tiếp canh tác, quản lý sử dụng phần đất này tiếp giáp với các chủ đất liền kề. Mục đích viết Biên bản họp gia đình ngày 02/7/2022 là do bà La Thị D có yêu cầu bà B và các con của bà B sang tên cho bà D phần đất mà ông C đã chuyển nhượng cho bà B2 vào năm 1993 nên các anh chị em thống nhất lập Biên bản họp gia đình để làm bằng chứng cho việc ông C có chuyển nhượng đất cho bà B2. Ông Nguyễn Văn B5 viết toàn bộ nội dung Biên bản họp gia đình ngày 02/7/2022 theo nội dung của các anh chị em có mặt và đọc lại cho mọi người thống nhất ký tên vào biên bản. Ông Phan Văn T – Trưởng ấp E xã T có chứng kiến toàn bộ nội dung trong biên bản và ký tên tại mục “Ấp 5 ngày 02/7/2022 tham dự cuộc họp T2 ấp 5".

3.6. Ông La Văn B1 trình bày tại Bản tự khai ngày 04/7/2023 có nội dung như sau: Ông B1 là chồng của bà Châu Thị B2 và là cha ruột của bà La Thị D. Bà Châu Thị B2 và ông Châu Văn C là anh em ruột. Thời điểm cuối năm 1992 đầu năm 1993 điều kiện kinh tế ông C gặp khó khăn, ông C có bán cho vợ chồng ông thửa đất số 1851, diện tích 1349m², theo bản đồ mới hiện nay là thửa 532, tờ bản đồ số 40, diện tích 1375,5m², loại đất BHK tại ấp E xã T, huyện B, tỉnh Long An, số tiền tại thời điểm đó là 4.500.000 đồng, nghĩ tình anh em trong gia đình không có làm giấy tờ. Kể từ khi mua bán, vợ ông cùng con gái là La Thị D trực tiếp quản lý sử dụng cho đến năm 2017. Năm 2017 vợ ông chết, con gái là La Thị D tiếp tục quản lý sử dụng cho đến ngày hôm nay, trên phần đất này hiện nay đang trồng chanh. Năm 2004 ông C chết; năm 2008 bà Ngô Thị B cùng các con làm văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế để lại cho bà Ngô Thị B đứng tên quyền sử dụng. Năm 2014, thực hiện chủ trương việc cấp đổi lại giấy chứng nhận, nâng cấp tỉ lệ bản đồ địa chính, bà Ngô Thị B có đến Ủy ban nhân dân xã T làm thủ tục cấp đổi đã bỏ ra thửa số 1851 (cũ), thửa 532 (mới), lý do ở thời điểm năm 1993 chồng bà đã chuyển nhượng cho bà Châu Thị B2.

3.7. Tại văn bản số 7550/UBND-VP ngày 18/7/2023 của Ủy ban nhân dân huyện B có nội dung như sau: Việc Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Châu Văn C ngày 21/5/1996 tại xã T là cấp giấy lần đầu, cơ sở người sử dụng đất kê khai đăng ký xin cấp giấy được Ủy ban nhân dân xã T xét duyệt, lập hồ sơ đề nghị theo quy định để Ủy ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được thực hiện đúng theo trình tự thủ tục quy định của pháp luật tại thời điểm cấp giấy. Về nội dung “việc có đúng đối tượng được cấp giấy hay không” đề nghị Tòa án liên hệ trực tiếp Ủy ban nhân dân xã T là chính quyền địa phương trực tiếp quản lý để được trả lời cụ thể. Ủy ban nhân dân huyện B yêu cầu được vắng mặt trong quá trình Tòa án các cấp giải quyết vụ án.

3.8. Tại văn bản số 1936/VPĐKĐĐ-HCTH ngày 01/8/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh L có nội dung như sau: Thửa đất 1851, tờ bản đồ số 4, diện tích 1349m², loại đất ĐRM, đất tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành A 684268 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận 01947QSDD/0211-LA) ngày cấp 21/5/1996, do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Long An cấp cho ông Châu Văn C.

Ngày 25/8/2004, ông Châu Văn C chết theo Giấy chứng tử số 13, quyển số 01/2004 được Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Long An cấp ngày 30/8/2004.

Ngày 18/7/2008, bà Ngô Thị B nộp hồ sơ đăng ký biến động do nhận thừa kế quyền sử dụng đất nêu trên theo Văn bản thỏa tuận được Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Long An chứng thực số 25/CC.CT, quyển số 01, trang số 12 và được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện B (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ tại huyện B) ký cập nhật chỉnh lý biến động trên trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số phát hành A 684268 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận 01947 QSDD/0211-LA) đối với thửa đất nêu trên cho bà Ngô Thị B ngày 26/8/2008.

Việc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện B (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ tại huyện B) ký cập nhật chỉnh lý biến động trên trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Ngô Thị B là đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục theo quy định.

Thửa đất số 1851, tờ bản đồ số 4, diện tích 1349m², loại đất ĐRM thành thửa đất số 532, tờ bản đồ số 40, diện tích 1375,5m², loại đất BHK, đất tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An theo tọa độ mới (chưa thực hiện đăng ký cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Theo hồ sơ lưu trữ Văn phòng đăng ký đất đai hiện có thì thửa đất nêu trên do bà Ngô Thị B đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

3.9. Tại Văn bản số 516/UBND-ĐC ngày 15/7/2023 của Ủy ban nhân dân xã T có nội dung như sau: Hiện tại Ủy ban nhân dân xã T đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ số A 684268, số vào sổ 01947 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 21/5/1996 và đã được chỉnh lý biến động sang tên cho bà Ngô Thị B ngày 26/8/2008 đối với thửa số 1851, tờ bản đồ số 4 (thửa mới 532, tờ bản đồ số 40), loại đất BHK, đất tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Long An. Lý do: Vào năm 2008 bà B đến Ủy ban nhân dân xã đồng ý nhận ba giấy chứng nhận mới thửa 408, 206, 24, tờ bản đồ số 40 (thửa cũ 1295, 1390 tờ bản đồ số 4), bà nói thửa 1851 tờ bản đồ số 4 không có ai sử dụng nên Ủy ban nhân dân xã đã giữ bản chính để thu hồi không có làm giấy tờ.

Nguồn gốc thửa đất 1851, tờ bản đồ số 4 (thửa mới là thửa 532, tờ bản đồ 40), loại đất BHK, đất tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Long An là của ông Châu Văn C đứng tên quyền sử dụng đất năm 1996. Trước khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Châu Văn C thì sổ mục kê do ông Châu Văn C đứng tên.

Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 684268, số vào sổ 01947 cho ông Châu Văn C ngày 21/5/1996 đối với thửa 1851, tờ bản đồ số 4 thì do bà Châu Thị B2 (mẹ ruột bà La Thị D) đang sử dụng. Hiện tại do bà La Thị D đang trực tiếp quản lý, sử dụng trồng chanh trên phần đất này.

Vào năm 2014 bà Ngô Thị B có kê khai đăng ký cấp đổi thửa 1295, 1380, tờ bản đồ số 4 do Chi nhánh M3 – Công ty TNHH MTV T4 bản đồ thực hiện. Trong quá trình kê khai cấp đổi giấy chứng nhận có thửa 1851, tờ bản đồ số 4 bà Ngô Thị B không có sử dụng thửa đất này nên đồng ý bỏ không có kê khai cấp đổi, không có làm giấy tờ. Ngày 03/4/2018, bà Ngô Thị B có đến Ủy ban nhân dân xã Đ ký nhận 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới. Riêng thửa 1851, tờ bản đồ số 4 không phải của bà nên Ủy ban nhân dân xã đã giữ lại giấy cũ để thu hồi. Hiện tại chỉ còn lưu giữ hồ sơ cấp đổi của thửa 1295 (mới 24), tờ bản đồ số 40 (cũ số 4), loại đất BHK; thửa 1380 (mới 206) tờ bản đồ số 4 (mới 40), loại đất ONT; thửa 1380 (mới 408), tờ bản đồ số 4 (mới 40), loại đất CLN đã thất lạc.

Ngoài ra tại văn bản số 662/UBND-ĐC ngày 05/9/2023 của Ủy ban nhân dân xã T có nội dung như sau: Vào năm 1993 toàn bộ địa bàn huyện B được Sở Địa chính tỉnh Long An hợp đồng thuê Công ty X bản đồ số 3 thuộc T5 đo đạc điều tra, khảo sát lập bản đồ địa chính. Năm 1995-1996, trên cơ sở bản đồ địa chính và sổ mục kê được lập, xí nghiệp đo đạc bản đồ số 3 phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T tổ chức cho người dân kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi hoàn thiện, xí nghiệp đo đạc bản đồ số 3 bàn giao hồ sơ cho Ủy ban nhân dân xã để tiến hành xét cấp giấy cho người dân. Năm 1996, Ủy ban nhân dân xã T hội đồng tư vấn xét cấp giấy cho người dân và được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân xã. Qua thời gian niêm yết công khai tại xã không có đơn tranh chấp, Ủy ban nhân dân xã đã làm Tờ trình đề nghị về Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy, trong đó có ông Châu Văn C và được Ủy ban nhân dân huyện B ban hành quyết định số 185/QĐ-UBND ngày 21/5/1996 về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tại thời điểm đo đạc thành lập bản đồ địa chính, bà Châu Thị B2 không có đến kê khai đăng cấp giấy. Thời gian đó xét cấp giấy đại trà nên cũng không thể kiểm tra hết thực tế mà xét cấp theo sổ mục kê và hồ sơ người dân kê khai đăng ký cấp giấy. Ủy ban nhân dân xã T hội đồng họp xét và niêm yết công khai tại xã thời gian 30 ngày.

Ông Châu Văn C được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy số A 684268, số vào sổ cấp GCN 01947 ngày 21/5/1996 gồm thửa đất số 1851 (mới 532), tờ bản đồ số 4 (mới 36). Việc xét cấp giấy đúng trình tự thủ tục, còn việc đúng đối tượng hay không Ủy ban nhân dân xã không nắm vì đã qua nhiều đời địa chính và Chủ tịch xã và trưởng ấp.

4. Người làm chứng:

4.1. Ông Lê Văn T3 trình bày tại Biên bản lấy lời khai ngày 19/7/2023 có nội dung như sau: Ông T3 là Trưởng ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Long An từ năm 2007 cho đến nay. Ngày 02/7/2022, ông được gia đình bà D mời đến để chứng kiến nội dung trong Biên bản họp gia đình ngày 02/7/2022 vì tại thời điểm nay ông đang giữ chức vụ là Trưởng ấp 5 xã T, ông có chứng kiến toàn bộ nội dung trong Biên bản và ký tên tại mục “Ấp 5 ngày 02/7/2022 tham dự cuộc họp trưởng ấp 5”. Mục đích lập Biên bản họp gia đình ngày 02/7/2022 do bà La Thị D yêu cầu bà B và các con của bà B sang tên cho bà D thửa đất số 1851, tờ bản đồ số 4, loại đất BHK tại ấp E xã T mà ông C đã chuyển nhượng cho bà B2 vào năm 1993. Biên bản họp gia đình gồm có ông Phan Văn T, ông Nguyễn Văn B4, ông Châu Văn M, ông Châu Văn M1, bà Châu Thị P3, ông Mai Văn L và bà La Thị D. Mặt sau của Biên bản họp gia đình ngày 02/7/2022 có chữ ký của ông Lê Văn K, ông Mai Văn N1, bà Nguyễn Thị T1 là những chủ đất liền kề giáp ranh với phần đất mà bà D đang trực tiếp quản lý sử dụng, mục đích là để xác định bà D có trực tiếp canh tác, quản lý sử dụng phần đất này tiếp giáp với các chủ đất liền kề.

4.2. Ông Nguyễn Văn B4 trình bày tại Biên bản lấy lời khai ngày 19/7/2023 có nội dung như sau: Ông B4 và bà La Thị D là anh em bạn dì ruột, ông B4 là con của bà Châu Thị L1 (em gái ông Châu Văn C). Ông B4 thống nhất về mối quan hệ huyết thống như nguyên đơn và các bị đơn trình bày. Nguồn gốc thửa đất số 1851 trước năm 1975 là của ông bà ngoại ông là cụ Châu Văn N (chết trước năm 1975) và cụ Nguyễn Thị Đ1 (chết năm 1979) cho mẹ ông là bà Châu Thị L1. Đến năm 1976 mẹ ông cho lại ông Châu Văn C thửa đất 1851 và ông C trực tiếp canh tác, quản lý sử dụng để thờ cúng ông bà. Đến năm 1992 ông C cho con trai là ông Châu Văn M sử dụng thửa đất này để trồng mía. Đến năm 1993, ông có nghe ông C bán phần đất này, ông và mẹ ông có xuống hỏi ông C vì phần đất này là đất hương quả của ông bà ngoại ông để lại nên không được bán thì ông C nói là “Tao bán cho dì 10 (bà Châu Thị B2) nên mẹ tôi và tôi cùng thống nhất cho ông C bán phần đất này cho bà B2. Tuy nhiên do là anh chị em trong gia đình nên không lập giấy bán đất, giá chuyển nhượng là 4.500.000 đồng. Sau khi chuyển nhượng, ông C đã giao phần đất này để bà B2 quản lý sử dụng. Vào năm 1993 bà B2 sử dụng phần đất này để trồng chanh, đến năm 2016 bà B2 chết thì con ruột của bà B2 là bà La Thị D quản lý sử dụng phần đất này để trồng chanh.

Nguyên đơn và bị đơn thống nhất sử dụng Mảnh trích đo địa chính số 255-2023 do Công ty TNHH Đ2 đo, được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện B phê duyệt ngày 27/7/2023 và Biên bản định giá tài sản ngày 04/7/2023 của Hội đồng định giá theo Quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá tài sản số 63/2023/QĐ-ĐG ngày 23/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An dùng làm căn cứ giải quyết vụ án, không yêu cầu đo đạc và thẩm định giá lại thửa đất tranh chấp.

Vụ án được Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc chấp hành pháp luật trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án ở giai đoạn xét xử sơ thẩm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án và người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Nguồn gốc thửa đất số 1851, tờ bản đồ số 4, diện tích 1349m², loại đất ĐRM, đất tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 21/5/1996 cho ông Châu Văn C. Năm 2004 ông Châu Văn C chết; ngày 18/7/2008, bà Ngô Thị B nộp hồ sơ đăng ký biến động do nhận thừa kế quyền sử dụng đất theo Văn bản thỏa thuận được Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Long An chứng thực và được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện B (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ tại huyện B) ký cập nhật chỉnh lý biến động trên trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất ông C được cấp giấy năm 1996, trong đó có thửa đất số 1851 cho bà Ngô Thị B ngày 26/8/2008.

Bà La Thị D trình bày, năm 1992 ông C bán thửa đất 1851 cho bà B2 với giá 4.500.000 đồng; việc này được hai người con của ông C và bà B là ông Châu Văn M và Châu Văn M1 thừa nhận. Sau khi nhận chuyển nhượng đất, ông C giao đất cho bà B2 quản lý sử dụng từ năm 1993 đến năm 2016 bà B2 chết thì con gái bà B2 là bà La Thị D tiếp tục quản lý sử dụng. Quá trình bà B2 sử dụng đất đến khi bà B2 chết, sau đó bà D quản lý sử dụng đất gia đình ông C không tranh chấp hay có ý kiến phản đối. Năm 2014 thực hiện chủ trương cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà B cũng không kê khai đối với thửa đất 1851. Ngày 03/4/2018 bà B đến Ủy ban nhân dân xã T nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng chừa thửa này ra vì cho rằng bà không quản lý sử dụng đất. Do đó yêu cầu khởi kiện của bà La Thị D là có căn cứ. Bị đơn bà Châu Thị P có đơn phản tố yêu cầu bà La Thị D trả lại thửa đất số 1851 vì cho rằng cha bà là ông Châu Văn C cho bà Châu Thị B2 thuê đất nhưng bà P không cung cấp được chứng cứ để chứng minh. Do đó không có cơ sở chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Châu Thị P.

Từ phân tích trên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Hủy chỉnh lý biến động sang tên bà Ngô Thị B đối với thửa đất số thửa 1851, tờ bản đồ số 4 (thửa mới là thửa 532, tờ bản đồ 40), loại đất BHK, đất tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Long An ngày 26/8/2008, công nhận thửa đất 1851 cho bà La Thị D. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Châu Thị P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà La Thị D khởi kiện “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hủy chỉnh lý sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vô hiệu văn bản thỏa thuận về việc thống nhất để người đứng tên sử dụng đất” đối với các bị đơn là bà Ngô Thị B, bà Châu Thị P, bà Châu Thị P1, bà Châu Thị P2. Bị đơn bà Châu Thị P có yêu cầu phản tố: Yêu cầu bà La Thị D trả lại cho bà B thửa đất số 1851. Căn cứ Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 31, 32 Luật Tố tụng hành chính thì Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm.

[2] Về sự tham gia tố tụng của các đương sự: Bị đơn bà Ngô Thị B đã được Tòa án tống đạt thủ tục hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Châu Thị P3, bà Châu Thị R, ông Mai Văn L, ông La Văn B1, ông Châu Văn M, ông Châu Văn M1, Ủy ban nhân dân huyện B, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh L, Ủy ban nhân dân xã T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người này.

[3] Về nội dung giải quyết vụ án:

[3.1] Về mối quan hệ gia đình của nguyên đơn và bị đơn: Theo lời trình bày của nguyên đơn bà La Thị D và các bị đơn bà Châu Thị P, bà Châu Thị P1, bà Châu Thị P2 thì bà D là con của bà Châu Thị B2; các bị đơn bà P, bà P1, bà P2 là con của ông Châu Văn C; bà B là vợ của ông C. Bà B2 là em gái ruột của ông C.

[3.2] Về nguồn gốc đất: Thửa đất số 1851, tờ bản đồ số 4 (thửa mới là thửa 532, diện tích 1349m², loại đất ĐRM, đất tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An có nguồn gốc của ông bà các nguyên đơn và bị đơn để lại cho ông Châu Văn C; ngày 21/5/1996 ông C được Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu gồm 4 thửa đất, trong đó có thửa 1851. Năm 2004 ông Châu Văn C chết; ngày 18/7/2008, bà Ngô Thị B nộp hồ sơ đăng ký biến động do nhận thừa kế quyền sử dụng đất theo Văn bản thỏa thuận được Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Long An chứng thực và được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện B (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ tại huyện B) ký cập nhật chỉnh lý biến động trên trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Ngô Thị B ngày 26/8/2008.

[3.2.1] Nguyên đơn bà La Thị D, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Châu Thị P3, ông Châu Văn M, ông Châu Văn M1, ông Mai Văn L, ông La Văn B1 đều có lời trình bày thống nhất rằng vào năm 1993 ông Châu Văn C chuyển nhượng thửa đất 1851 cho bà Châu Thị B2 với giá 4.500.000 đồng, bà B2 quản lý sử dụng thửa đất trên đến năm 2016 thì bà B2 chết, con gái cụ là bà La Thị D tiếp tục quản lý sử dụng đất cho đến nay. Bị đơn bà Châu Thị P cũng thừa nhận cụ B2 quản lý sử dụng đất từ năm 1993 đến năm 2016 bà B2 chết thì bà D tiếp tục quản lý sử dụng cho đến nay. Tuy nhiên ông C không có bán thửa đất 1851 cho bà B2 mà cho bà B2 thuê đất với giá 4.500.000 đồng, hai bên không làm giấy cho mướn đất cũng không có ai chứng kiến. Bị đơn bà Châu Thị P1, bà Châu Thị P2 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Châu Thị R có lời trình bày thống nhất: Vào năm 1993, bà B2 sử dụng phần đất này để trồng chanh đến năm 2016 thì bà B2 chết; con gái của bà B2 là bà La Thị D tiếp tục quản lý sử dụng phần đất này cho đến nay. Các bà không biết ông C có chuyển nhượng hay là cho bà B2 thuê mướn phần đất này. Trong quá trình bà B2 sử dụng đất thì các bà không ngăn cản hay có ý kiến gì.

[3.2.2] Ông Châu Văn M là người trực tiếp quản lý sử dụng thửa đất số 1851 trước năm 1993 để trồng lúa có lời trình bày: Năm 1993, cha ông là ông Châu Văn C có nói hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên bán phần đất này cho cô 1 (là bà Châu Thị B2) để lấy tiền. Tuy nhiên, do là anh chị em trong gia đình nên không lập giấy bán đất, giá chuyển nhượng là 4.500.000 đồng. Việc cha ông bán đất cho bà B2 thì mẹ ông và các anh chị em trong gia đình đều biết và cùng sử dụng số tiền 4.500.000 đồng vì tại thời điểm đó kinh tế gia đình ông khó khăn. Sau khi nhận chuyển nhượng, cha ông đã giao thửa đất này để bà B2 quản lý sử dụng. Vào năm 1993 bà B2 sử dụng phần đất này để trồng chanh, đến năm 2016 bà B2 chết thì con ruột của bà B2 là bà La Thị D quản lý, sử dụng phần đất này để trồng chanh. Điều này cũng được ông Châu Văn M1 (là em trai) và bà Châu Thị P3 (là em gái) của ông M thừa nhận có sự việc vào năm 1993 ông C chuyển nhượng thửa 1851 cho bà B2 với giá 4.500.000 đồng, hai bên không có lập giấy mua bán đất.

[3.3] Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức thể hiện: Hiện trạng phần đất tranh chấp đang trồng chanh. Các đương sự cùng thống nhất cây trồng trên đất do bà La Thị D trồng.

[3.4] Tại Văn bản số 516/UBND-ĐC ngày 15/7/2023 của Ủy ban nhân dân xã T có nội dung như sau: Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 684268 cho ông Châu Văn C ngày 21/5/1996 đối với thửa 1851, tờ bản đồ số 4 thì do bà Châu Thị B2 (mẹ ruột bà La Thị D) đang sử dụng. Hiện tại do bà La Thị D đang trực tiếp quản lý, sử dụng trồng chanh trên phần đất này. Vào năm 2014 bà Ngô Thị B có kê khai đăng ký cấp đổi thửa 1295, 1380, tờ bản đồ số 4 do Chi nhánh M3 – Công ty TNHH MTV T4 bản đồ thực hiện. Trong quá trình kê khai cấp đổi giấy chứng nhận có thửa 1851, tờ bản đồ số 4 bà Ngô Thị B không có sử dụng thửa đất này nên đồng ý bỏ không có kê khai cấp đổi, không có làm giấy tờ. Ngày 03/4/2018, bà Ngô Thị B có đến Ủy ban nhân dân xã đã đồng ý ký nhận 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới. Riêng thửa 1851, tờ bản đồ số 4 không phải của bà nên Ủy ban nhân dân xã đã giữ lại giấy cũ để thu hồi.

[3.5] Bà Châu Thị P cho rằng vào năm 1993, cha bà là ông Châu Văn C chỉ cho bà Châu Thị B2 thuê thửa đất số 1851 với giá 4.500.000 đồng; tuy nhiên bà P không cung cấp được chứng cứ để chứng minh. Ông Châu Văn M là người trực tiếp canh tác thửa 1851 trước năm 1993 xác định vào năm 1993 cha ông là ông Châu Văn C đã chuyển nhượng cho bà Châu Thị B2 thửa 1851 với giá 4.500.000 đồng để trang trải cuộc sống gia đình vì thời điểm đó gia đình gặp khó khăn; từ năm 1993 cha ông giao thửa 1851 cho bà B2 quản lý sử dụng. Lời trình bày của ông M phù hợp với lời trình bày của ông M1; còn bà P từ trước đến nay không có canh tác thửa đất này. Sau khi bà Ngô Thị B kê khai nhận di sản thừa kế vào năm 2008 và được chỉnh lý sang tên. Đến năm 2014 bà Ngô Thị B có kê khai đăng ký cấp đổi thửa 1295, 1380, tờ bản đồ số 4 do Chi nhánh M3 – Công ty TNHH MTV T4 bản đồ thực hiện. Trong quá trình kê khai cấp đổi giấy chứng nhận có thửa 1851, tờ bản đồ số 4 bà Ngô Thị B không có sử dụng thửa đất này nên đồng ý bỏ không có kê khai cấp đổi, không có làm giấy tờ. Ngày 03/4/2018, bà Ngô Thị B có đến Ủy ban nhân dân xã, đồng ý ký nhận 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới. Riêng thửa 1851, tờ bản đồ số 4 bà B nói không phải của bà nên Ủy ban nhân dân xã đã giữ lại giấy cũ để thu hồi. Quá trình sử dụng đất của bà Châu Thị B2 từ năm 1993 đến năm 2016, sau khi bà B2 chết con gái bà là bà La Thị D tiếp tục quản lý sử dụng, gia đình ông C trước nay không có ai tranh chấp.

[3.6] Người làm chứng ông Nguyễn Văn B4 có quan hệ họ hàng với nguyên đơn và bị đơn trình bày có biết sự việc vào năm 1993 ông C chuyển nhượng thửa đất tranh chấp cho bà B2 với giá 4.500.000 đồng và giao đất cho bà B2 quản lý sử dụng từ năm 1993, đến năm 2016 bà B2 chết thì bà D tiếp tục quản lý sử dụng đất, không ai tranh chấp.

[3.7] Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Ủy ban nhân dân huyện Bến Lức cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Châu Văn C ngày 21/5/1996 tại xã T là cấp giấy lần đầu, cơ sở người sử dụng đất kê khai đăng ký xin cấp giấy được Ủy ban nhân dân xã T xét duyệt, lập hồ sơ đề nghị theo quy định để Ủy ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2014 bà Ngô Thị B thực hiện chủ trương cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở kê khai nhận di sản thừa kế quyền sử dụng đất năm 2008.

Điều 2 Luật Đất đai năm 1993 quy định: “Người sử dụng đất ổn định, được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận thì được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

[3.8] Đối chiếu quy định của Luật đất đai, hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Châu Văn C lần đầu vào năm 1996 trong đó có thửa đất số 1851 ông C đã chuyển nhượng cho bà B2 năm 1993 là không đúng đối tượng sử dụng đất.

[3.9] Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 684268, số vào sổ cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất số 01947 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 21/5/1996 cho ông Châu Văn C và hủy chỉnh lý biến động sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B chỉnh lý sang tên cho bà Ngô Thị B ngày 26/8/2008, thấy rằng: Bà Ngô Thị B được chỉnh lý sang tên quyền sử dụng đất do nhận thừa kế quyền sử dụng đất theo văn bản thỏa thuận được Ủy ban nhân dân xã T chứng thực số 25 ngày 18/7/2008 là thực hiện thủ tục hành chính trong các giao dịch dân sự, nên áp dụng hướng dẫn tại mục 2, phần II Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 không cần thiết tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 1851 do ông Châu Văn C đứng tên. Khi bản án có hiệu lực thì Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường căn cứ vào bản án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1851 là phù hợp.

[3.10] Như đã phân tích ở trên, vào năm 1996 ông Châu Văn C kê khai đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 1851 trong khi năm 1993 đã chuyển nhượng cho bà B2, ông cũng đã nhận đủ tiền và giao đất cho bà B2 quản lý sử dụng là không đúng đối tượng sử dụng đất. Do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc vô hiệu một phần Văn bản thỏa thuận về việc thống nhất để người đứng tên sử dụng đất ngày 16/6/2008 được Ủy ban nhân dân xã T chứng thực số 25/CCCT, quyển số 01, trang số 12 ngày 18/7/2008 đối với thửa đất số 1851, tờ bản đồ số 4 (thửa mới là thửa 532, tờ bản đồ số 36), loại đất BHK, đất tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Long An là có căn cứ chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Không có căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

[4] Về chi phí tố tụng là 15.000.000 đồng, bà La Thị D đã tạm ứng nộp và chi phí xong. Do yêu cầu khởi kiện của bà D được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí này.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Ngô Thị B được miễn nộp án phí. Bà Châu Thị P, bà Châu Thị P1, bà Châu Thị P2 phải chịu án phí theo quy định.

[6] Đề nghị của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 5, 26, 34, 37, 39, 147, 158, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 31, 32 Luật Tố tụng hành chính.

Căn cứ Điều 2 Luật Đất đai năm 1993.

Căn cứ Điều 100, 166, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013.

Áp dụng Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà La Thị D về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy chỉnh lý sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và vô hiệu văn bản thỏa thuận về việc thống nhất để người đứng tên sử dụng đất” đối với bị đơn bà Ngô Thị B, bà Châu Thị P, bà Châu Thị P1, bà Châu Thị P2.

1.1. Vô hiệu một phần Văn bản thỏa thuận về việc thống nhất để người đứng tên sử dụng đất ngày 16/6/2008, được Ủy ban nhân dân xã T chứng thực số 25/CCCT, quyển số 01, trang số 12 ngày 18/7/2008 đối với thửa đất số 1851, tờ bản đồ số 4 (thửa mới là thửa 532, tờ bản đồ số 36), loại đất BHK, đất tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Long An.

1.2. Hủy chỉnh lý biến động sang tên bà Ngô Thị B đối với thửa đất số thửa 1851, tờ bản đồ số 4 (thửa mới là thửa 532, tờ bản đồ 36), loại đất BHK, đất tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Long An ngày 26/8/2008.

1.3. Bà La Thị D được quyền quản lý, sử dụng và kê khai đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số thửa đất số 1851, tờ bản đồ số 4 (thửa mới là thửa 532 tờ bản đồ 36), diện tích 1349m², loại đất ĐRM, đất tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An.

1.4. Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan tài nguyên môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

Vị trí, kích thước, tứ cận các thửa đất được thể hiện trên theo Mảnh trích đo địa chính số 255-2023 do Công ty TNHH Đ2 đo ngày 20/7/2023, được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện B, tỉnh Long An duyệt ngày 27/7/2023.

2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Châu Thị P về việc yêu cầu nguyên đơn trả lại thửa đất số 1851, tờ bản đồ số 4, diện tích 1349m², loại đất ĐRM (thửa mới là 532, tờ bản đồ số 40, diện tích 1375,5m², loại đất BHK) đất tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An.

3. Về chi phí tố tụng (xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản) là 15.000.000 đồng. Buộc bà Ngô Thị B, bà Châu Thị P, bà Châu Thị P1, bà Châu Thị P2 có trách nhiệm liên đới trả lại cho bà La Thị D số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

4.1. Bà Ngô Thị B được miễn nộp án phí.

4.2. Bà Châu Thị P phải chịu 600.000 đồng án phí. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà P đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010210 ngày 24/8/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bến Lức sang thi hành án phí; bà P còn phải nộp tiếp 300.000 đồng án phí. Bà Châu Thị P1, bà Châu Thị P2 mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí.

4.3. Bà La Thị D không phải chịu án phí. Hoàn trả 1.200.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009935 ngày 26/5/2023 (số tiền 900.000 đồng) và Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010194 ngày 17/8/2023 (số tiền 300.000 đồng do ông Hà Văn H nộp thay) của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An cho bà La Thị D.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Tp.HCM;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - Cục THADS tỉnh Long An;
  • - Chi cục THADS huyện Bến Lức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đinh Thị Ngọc Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/DS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hủy chỉnh lý trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; vô hiệu văn bản thỏa thuận về việc thống nhất để người đứng tên sử dụng đất

  • Số bản án: 34/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hủy chỉnh lý trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; vô hiệu văn bản thỏa thuận về việc thống nhất để người đứng tên sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: La Thị D "Tranh chấp quyền sử dụng đất,..." Ngô Thị B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger