Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 34/2024/DS-ST

Ngày: 27/5/2024

V/v tranh chấp hợp đồng dân

sự về hụi.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.

Các hội thẩm nhân dân.

  • - Ông Phạm Phước Cường;
  • - Ông Nguyễn Văn Bằng.

Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Ngọc Thảo, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Vân, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 02/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2024/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 08/TB-TA ngày 20/5/2024, giữa:

Nguyên đơn: Ông Trần Ngọc B, sinh năm 1966 và bà Lê Thị H, sinh năm 1968; địa chỉ: số A đường T, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.

Có bà Phan Thị Hồng X, sinh năm 1997; địa chỉ ấp L, xã T, huyện V, tỉnh Kiên Giang đại diện theo Hợp đồng ủy quyền ngày 16/12/2023.

Bị đơn: Ông Trần Quốc K, sinh năm 1966 và bà Mai Thị L, sinh năm 1966; cùng địa chỉ: tổ B, khóm H, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang.

Bà X, bà H, ông K và bà L có mặt tại phiên tòa

NHẬN THẤY:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Ngọc B, bà Lê Thị H và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Ông B, bà H có tham gia hụi do ông K, bà L làm chủ. Dây hụi 1.000.000 đồng/tuần, gồm 60 phần, hụi mở ngày 19/01Âl/2023, không nhớ ngày kết thúc, ông B, bà H tham gia 02 phần. Hụi khui đến lần thứ 40 thì ngưng, còn

lại 20 lần. Ông B, bà H góp hụi được 40 lần x 1.000.000 đồng/phần x 2 phần = 80.000.000 đồng (gồm vốn gốc đóng hụi và tiền lãi) (không xác định vốn gốc đóng hụi đã đóng là bao nhiêu).

Ông B, bà H yêu cầu ông K, bà L liên đới trả lại số tiền vốn gốc và lãi hụi đã đóng là 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện: danh sách hụi (bản photo).

Theo lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Quốc K và bà Mai Thị L trình bày: xác định vợ chồng K, L có làm chủ dây hụi 1.000.000 đồng/tuần mà ông Trần Ngọc B và bà Lê Thị H tham gia 02 phần. Hụi khui đến lần thứ 40 thì ngưng, mỗi lần khui hụi ông B, bà H đóng bao nhiêu tôi không nhớ nhưng khi ngưng mở hụi thì có thống nhất mỗi lần đóng hụi là 700.000 đồng. Ông B, bà H đã đóng được 40 lần x 700.000 đồng/phần x 02 phần = 56.000.000 (năm mươi sáu triệu) đồng.

Vợ chồng chúng tôi (K, L) đồng ý trả lại cho ông B, bà H số tiền 56.000.000 (năm mươi sáu triệu) đồng nhưng do hoàn cảnh khó khăn, xin trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi hết số tiền còn nợ.

Tại phiên tòa,

  • - Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bà Lê Thị H và ông Trần Quốc K, bà Mai Thị L đồng xác định số vốn gốc hụi đã đóng tính trên mỗi phần là 700.000 đồng/phần, ông B và bà H tham gia 02 phần và đã đóng 40 lần thì ngưng; xác định tính lãi suất chậm trả với mức lãi suất 20%/năm từ khi ngưng tháng 10A1/2023 cho đến khi xét xử xong; xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.
  • - Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Trần Ngọc B, bà Lê THị H1 yêu cầu bị đơn trả một lần vốn gốc hụi và tiền lãi.
  • - Bị đơn ông Trần Quốc K, bà Mai Thị L đồng ý trả số tiền vốn gốc hụi và tiền lãi với mức lãi suất 20%/năm từ khi ngưng tháng 10Â1/2023 cho đến khi xét xử xong như yêu cầu của nguyên đơn, nhưng xin trả dần mỗi tháng 2.000.000đồng cho đến khi hết số tiền còn nợ.
  • - Ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: ông B, bà H1 khởi kiện yêu cầu ông K, bà L trả số tiền hụi đã đóng với giá 700.000 đồng/phần, tổng số tiền 56.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi suất 20%/năm từ tháng 10/2023 âm lịch (thời gian ngưng góp hụi) đến nay. Bị đơn ông K, bà L thừa nhận có làm chủ dây hụi mà ông B, bà H1 tham gia, vi phạm nghĩa vụ chủ hụi (ngưng mở hụi) từ tháng 10/2023 âm lịch đến nay, đồng ý trả số tiền hụi đã đóng và lãi suất theo yêu cầu của ông B, bà

H1. Xét thấy, giao dịch dân sự góp hụi giữa ông B, bà H1 với ông K, bà L được giao kết trên tinh thần tự nguyện, do ông K, bà L vi phạm nghĩa vụ, điều đó làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của ông B, bà H1. Cho nên, ông B, bà H1 khởi kiện yêu cầu ông K, bà L trả số tiền hụi đã đóng và lãi suất là có căn cứ.

Đối với việc ông K, bà L xin trả dần 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi dứt nợ do hoàn cảnh khó khăn không được ông B, bà H1 đồng ý nên không đặt ra xem xét.

Đề nghị căn cứ Điều 471 BLDS năm 2015; các Điều 18, 22 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ, về họ, hụi, biêu, phường, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  • * Về tố tụng:
  • [1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Trần Ngọc B, bà Lê Thị H khởi kiện yêu cầu ông Trần Quốc K, bà Mai Thị L trả nợ hụi. Ông K, bà L đang cư trú trên địa bàn thành phố C nên yêu cầu khởi kiện của ông B, bà H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • * Về nội dung:
  • [2] Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng:
  • Nguyên đơn ông Trần Ngọc B, bà Lê Thị H và bị đơn ông Trần Quốc K và bà Mai Thị L đồng thống nhất ông B, bà H có tham gia 02 phần hụi trong dây hụi 1.000.000 đồng/tuần (dây hụi 60 phần) do ông K, bà L làm chủ (trên sổ hụi ghi tên ông K). Thời điểm ngưng hụi là tháng 10 Âl/2023, ông K và bà L nợ ông B, bà H số tiền hụi đã đóng.
  • Giao dịch dân sự về hụi giữa ông Trần Ngọc B, bà Lê Thị H và ông Trần Quốc K, bà Mai Thị L được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện, không trái pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên khi tham gia góp họ, hụi.
  • [3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
  • - Về vốn gốc hụi: Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Trần Ngọc B, bà Lê Thị H và bị đơn ông Trần Quốc K, bà Mai Thị L đồng thống nhất mỗi phần góp hụi là 700.000 đồng, ông B, bà H tham gia 02 phần, đóng hụi được 40 lần thì ngưng nên vốn gốc hụi được xác định 700.000 đồng/phần x 40 lần x 2 phần = 56.000.000 (năm mươi sáu triệu) đồng (1).
  • - Về tiền lãi: Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bà H và bị đơn ông K, bà L đồng thống nhất tính lãi chậm trả với mức lãi suất 20%/năm đối với số tiền vốn gốc hụi và thời gian ngưng mở hụi là tháng 10Â1/2023 nên tiền lãi được tính như sau:

56.000.000 đồng x 20%/năm x 06 tháng (từ tháng 10Â1/2023 đến tháng 4A1/2024) = 5.599.999 đồng làm tròn 5.600.000 (năm triệu sáu trăm nghìn) đồng (2).

Theo đơn khởi kiện nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền 80.000.000 đồng bao gồm vốn gốc hụi và lãi. Tại phiên tòa, nguyên đơn thống nhất số tiền vốn hụi 700.000 đồng/phần, nên thay đổi yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu bị đơn trả vốn hụi số tiền là 56.000.000 đồng và tiền lãi 20%/năm tính từ khi ngưng mở hụi tháng 10 Â1/2023 đến nay là 5.600.000 đồng. Xét, yêu cầu trả nợ của nguyên đơn có sự thay đổi nhưng yêu cầu này không vược quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về trách nhiệm trả nợ: Trên sổ hụi ghi tên ông K là chủ hụi. Tuy nhiên, ông K và bà L xác định K, L làm chủ hụi dây hụi mà bà V tham gia nên việc bà V yêu cầu ông K, bà L cùng có trách nhiệm liên đới trả lại số tiền góp hụi là có căn cứ. Ông K, bà L là chủ hụi, đã nhận đủ tiền hụi do bà V đóng nhưng vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi thì phải có trách nhiệm trả vốn gốc hụi và tiền lãi cho bà V theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Do đó, buộc ông Trần Quốc K, bà Mai Thị L liên đới có trách nhiệm trả cho ông Trần Ngọc B, bà Lê Thị H số tiền vốn lãi là (1) + (2) = 61.600.000 (sáu mươi mốt triệu, sáu trăm nghìn) đồng (trong đó, vốn gốc hụi: 56.000.000 đồng, tiền lãi 5.600.000 đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4] Về phương thức thanh toán:

Ông Trần Quốc K, bà Mai Thị L yêu cầu được trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi hết số nợ nhưng không được đại diện theo ủy quyền của ông B, bà H chấp nhận. Cho nên, phương thức thanh toán sẽ được xem xét trong giai đoạn thi hành án.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:

Ông Trần Ngọc B, bà Lê Thị H được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả cho ông B, bà H số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Ông Trần Quốc K, bà Mai Thị L liên có trách nhiệm trả nợ nên phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.080.000 (ba triệu, không trăm tám mươi nghìn) đồng.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Các Điều 147 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ngọc B, bà Lê Thị H.

Buộc ông Trần Quốc K, bà Mai Thị L liên đới trả cho ông Trần Ngọc B, bà Lê Thị H số nợ hụi vốn lãi là 61.600.000 (sáu mươi mốt triệu, sáu trăm nghìn) đồng (trong đó, vốn gốc hụi: 56.000.000 đồng, tiền lãi 5.600.000 đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Hoàn trả cho ông Trần Ngọc B, bà Lê Thị H số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003137 ngày 03/01/2024.
  • - Ông Trần Quốc K, bà Mai Thị L liên đới chịu 3.080.000 (ba triệu, không trăm tám mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Trần Ngọc B, bà Lê Thị H, ông Trần Quốc K và bà Mai Thị L có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Châu Đốc (2);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - Chi cục THADS TP.Châu Đốc (1);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Thanh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/DS-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi

  • Số bản án: 34/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Trần Ngọc Bích khởi kiện tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi với bị đơn Trần Quốc Khánh, Mai Thị Lan
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger